Breaking News
Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn thạc sĩ ngành QTKD / Tiểu luận: Giải pháp phát triển thị trường lao động ở Đà Nẵng!

Tiểu luận: Giải pháp phát triển thị trường lao động ở Đà Nẵng!

1. Lý do chọn đề tài Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc phát triển thị trường lao động là một yếu tố khách quan vì thị trường sức lao động là một trong những nhân tố quan trọng tạo động lực thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường tăng trưởng nhanh và bền vững. Để phát triển kinh tế, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường cần phải phát triển các loại thị trường, vì thị trường được ví như môi trường sống của kinh tế hàng hóa. Thị trường lao động được hình thành và phát triển trong nề kinh tế. Nó có mối quan hệ, tạo sự gắn kết cung-cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và kiếm việc làm.Các chính sách ưu đãi của nhiều doanh nghiệp đã thu hút nhiều nhân lực, nhất là ở khu vực nông thôn..Đa dạng hóa các loại giao dịch việc làm, phát triển hệ thống thong tin thị trường rong nước và ngoài nước.cùng với xu thế chung của nước ta, Đà Nẵng từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc trung ương ( 1997 ), được câm nhận là đô thị loại 1 cấp quốc gia.Thực tế thì trong những năm qua thị trường sức lao động ở Đà Nẵng đã phát triển và được hình thành. Sự phát triển của thị trường lao động ở Đà Nẵng góp phần phân bổ nguồn nhân lực lao động giữa các ngành, các vùng hợp lý, chuyển dịch cơ cấu đúng hướng thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Bên cạnh đó, với sự phát triển nhanh chóng của các ngành nghề và lĩnh vực mới đã hu thút một lượng lao động lớn từ các nơi khác đổ về đặc biệt là các dòng di dân từ các tỉnh phía Bắc. Đây cũng chính là cơ hội tốt cho nguồn cung lao động. Tuy nhiên, bên cạnh đó Đà Nẵng còn nhiều bất cập giữa các yếu tố thị trường như mất công bằng về cung – cầu lao động dẫn đến tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động, chuyển dịch cơ cấu còn chưa phù hợp. Từ những ý nghĩa về mặt lý luận và thưc tiễn trên mà em đã chọn đề tài “ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY ”, làm đề tài nghiên cứu cho môn học Thị Trường Lao Động. 2. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu tập trung vào thu thập số liệu, trên cơ sở phân tích thực trạng sức lao động trên thành phố Đà Nẵng. Để từ đó đề ra những phương hướng và giải pháp nhằm
5. 5 phát triển mạnh mẽ, hoàn thiện thị trường lao động ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới. 3. Phạm vi nghiên cứu 1. Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tập trung ở Thành phố Đà Nẵng 2. Phạm vi thời gian: Thực hiện nghiên cứu đề tài từ khi bắt đầu môn học cho đến ngày 17/10. 3. Phạm vi nội dung: Đề tài gửi đến các nội dung cần thiết và các số liệu lấy chủ yếu từ năm 1997 -2015. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp phân tích tài liệu:Từ việc phân tích, đánh giá tìm kiếm số liệu để đề tài đi sâu hơn vào thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển thị trường sức lao động tại thành phố Đà Nẵng. Phương pháp phân tích số liệu, tổng hợp, đánh giá, sơ đồ hóa, hệ thống bảng biểu. 5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Từ những lý luận thông qua việc tìm kiếm, phân tích, tổng hợp số liệu để đánh giá thực trạng thị trường lao động ở Đà Nẵng. Từ đó đề xuất ra những giải phápchủ yếu và định hướng chung nhằm phát triển những mặt tích cực và hạn chế nhungữ mặt tiêu cực của thị trường lao động, góp phần thúc đẩy qua trình phát triển kinh tế-xã hội của thành phố theo hướng bền vững. 6. Hạn chế của đề tài Không trực tiếp được khảo sát thực tế thị trường lao động tại Đà Nẵng qua những năm qua và gần đây. Do trình độ am hiểu , kiến thức thực tế và lượng thông tin còn hạn chế nên bài tiểu luận còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự đánh giá, góp ý của thầy để những bài tiểu luận sau em được hoàn thiện tốt hơn.
6. 6 PHẦN NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG 1.1. Sức lao động và thị trường lao động 1.1.1 Sức lao động  Khái niệm Bất cứ một quá trình lao động sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản đó là: Lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Tuy nhiên, cả ba yếu tố này có một vai trò nhất định, trong đó lao động là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất nhưng không phải là yếu tố duy nhất tạo ra của cải vật chất. Như vậy, sức lao động chỉ mới nói lên khả năng lao động tiềm ẩn bên trong của một con người. Sức lao động là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể con người đang sống. Năng lực thể chất chính là phần xương thịt của con người thể hiện ở chiều cao, cân nặng và khả năng hoạt động của con nguời; Năng lực tinh thần thể hiện ở mặt trí lực như sở thích, năng lực chuyên môn và sự thoả mái của con người. Khác với sức lao động. Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên. Bản thân của con người đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là một lực lượng của tự nhiên, để chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hình thái có ích cho đời sống bản thân mình, con người vận dụng những sức tự nhiên thuộc về thân thể của họ: tay và chân. Trong khi tác động vào tự nhên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó đã làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó.  Các yếu tố của hàng hóa Giá trị của sức lao động : Giá trị hàng hóa sức lao động được quyết định bởi số thời gian lao động cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động. Sức lao động chỉ tồn tại như một năng lực con người đang sống, muốn tái sản xuất năng lực lao động đó thì người có sức lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định. Do đó, thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động cần thiết sản xuất để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt ấy.C.Mác viết: “Giá trị của sức
7. 7 lao động cũng như mọi hàng hóa khác, được quyết định bởi số thời gian lao động cần thiết để sản xuất, và do đóđể sản xuẩt ra thứ sản phẩm đặc biệt ấy. Sức lao động chỉ tồn tạinhư một năng lực của con người đang sống… Nhưng sức lao độngchỉ được thực hiện bằng cách biểu hiện ra ngoài, nó chỉ được thựchiện trong lao động. Trong quá trình thực hiện nó, trong lao độngphải hao phí một lượng nhất định về cơ, thần kinh và não, v.v. của con người, sự hao phí đó phải được bù lại. Hao phí càng nhiều thìbù đắp càng lớn [31, tr.255- 256]”. Như vậy, là hàng hóa đặc biệt giá trị của hàng hóa sức lao động khácvới hàng hóa thông thường ở chỗ nó bao gồm yếu tố lịch sử và yếu tố tinh thần. Nhu cầu của người có sức lao động không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn nhu cầu về tinh thần. Giá trị hàng hóa sức lao động kết hợp bởi 3 bộ phận Thứ nhất, giá trị của những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống bảnthân người lao động. Sức lao động chỉ thực hiện trong lao động. Trong quátrình lao động phải hao phí một lượng nhất định về cơ, thần kinh và não v.v…Sự hao phí đó phải được bù đắp lại. Do đó, phải đủ tư liệu sinh hoạt để duy trìthể lực và sức khoẻ của người lao động như trước, trong một trạng thái sinhhoạt bình thường. Bản thân những nhu cầu tự nhiên khác như thức ăn, áo quần, chất đốt, nhà ở v.v…cũng khác nhau tuỳ theo khí hậu và những đặcđiểm thiên nhiên khác của từng nước. Mặt khác, quy mô của cái gọi là những nhu cầu thiết yếu, cũng như phương thức thoả mãn những nhu cầu đó lại phụ thuộc phần lớn vào trình độ văn minh của mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộcvào những điều kiện và những thói quen trong đó giai cấp của những ngườilao động tự do được hình thành nghĩa là giá trị sức lao động bao gồm một yếu tố lịch sử và tinh thần. Nhưng đối với một nước nhất định và với một thời kỳ nhất định thì tính trung bình quy mô của những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định. Thứ hai, giá trị tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế. Người sở hữu sức lao động sẽ phải về hưu hay chết. Những sức lao động biến khỏi thị trường lao động ấy cần phải được thường xuyên thay thế bằng những sức laođộng mới, ít ra cũng với một con số ngang như thế. Vì vậy, tổng số những tưliệu sinh hoạt cần thiết cho việc sản xuất ra sức lao động bao gồm cả những tưliệu sinh hoạt cho những người thay thế đó, tức là cho con cái của những người lao động Thứ ba, chi phí đào tạo. Muốn cho sức lao động trở thành một sức laođộng phát triển và đặc thù, thì cần phải có một trình độ học vấn hay giáo dụcnào đó, nên phải có những chi phí đào tạo tuỳ theo tính chất phức tạp của laođộng. Do đó, những chi phí ấy đều gia nhập vào tổng số giá trị được chi phíđể sản xuất ra sức lao động và tiền công cho lao động phức tạp phải cao hơnlao động giản đơn, vì lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn.

 

MÃ TÀI LIỆU: 0563

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

About hien

Check Also

Luận văn: Bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh

MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu Đề tài luận …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *