Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn thạc sĩ ngành QTKD / Thuyết minh đề tài AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM tại TP.HCM

Thuyết minh đề tài AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM tại TP.HCM

Qua tìm hiểu cho thấy, thời gian qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về ATTP và ATTP gia đình. Tuy nhiên, chỉ xin trình bày một số công trình nghiên cứu trong phạm vi những nguồn tài liệu mà tác giả tiếp cận được. Ở Mỹ, một nghiên cứu đã mua 382 con gà giò từ hơn 100 cửa hàng ở 22 bang và tiến hành xét nghiệm 2 loại vi khuẩn chính nguy hiểm là salmonellla và campylobacter. Và kết quả thu được cho thấy gần 2/3 số gà xét nghiệm đều có một hoặc cả 2 loại vi khuẩn trên. 62% số gà này có vi khuẩn campylobacter, 14 % có khuẩn salmonella và 9% có cả 2 loại vi khuẩn trên. Chỉ có 34% số gà trên là không có 2 loại vi khuẩn này.Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống dịch bệnh của Mỹ ước tính vi khuẩn salmonella và campylobacter từ gà và các thực phẩm khác đã gây ảnh hưởng đến 3,3 triệu người Mỹ, làm 26 nghìn người phải nhập viện và hơn 650 người tử vong mỗi năm. Với tiêu đề “Sự ảnh hưởng của các nhân tố xã hội đến kiến thức, thái độ, thực hành về các bệnh lây truyền qua thực phẩm và an toàn thực phẩm” (2002), hai tác giả Maizun Mohd Zain và Nyi Nyi Naing đã tiến hành nghiên cứu thăm dò nhằm tìm hiểu sự chi phối ảnh hưởng của các nhân tố xã hội đến kiến thức, thái độ, thực hành về các bệnh lây truyền qua TP và an toàn thực phẩm ở 430 người chế biến thực phẩm sinh sống ở Kota Bharu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người chế biến thực phẩm chưa tham gia lớp tập huấn vệ sinh ATTP chiếm 27.2% và 61.9% có khám sức khoẻ định kỳ, gần một nửa (48.4%) chưa có kiến thức tốt và có sự khác biệt không đáng kể về thái độ và thực
5. PHƯƠNG PHÁP NGIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRẦN KIM CƯƠNG Page 5 hành giữa những người tham gia và không tham gia lớp tập huấn. Nghiên cứu này cũng chỉ ra, chúng ta cần phải có những can thiệp cộng đồng cho người chế biến thực phẩm nhằm cải thện kiến thức, thái độ, thực hành về các bệnh lây truyền qua thực phẩm và vệ sinh thực phẩm. Hơn nữa, quá trình này sẽ giúp làm giảm sự lan truyền các bênh tật trên thế giới, đặc biệt là các bệnh hiểm nghèo [30]. Trong đề tài “Nghiên cứu nhận thức và thực hành an toàn thực phẩm trong các hộ gia đình ở Trinidad” (2005), tác giả Deryck Damian Pattron đã tiến hành tìm hiểu 350 hộ gia đình sống tại Trinidad – phía Đông Ấn Độ nhằm đánh giá nhận thức đúng về thực hành ATTP. Cuộc khảo sát cho thấy có 95% hộ gia đình chưa biết cách chế biến, vận chuyển, tồn trữ và bảo quản thực phẩm an toàn. Nghiên cứu cũng cho thấy có 98% hộ không rửa tay trước khi chế biến thực phẩm và trước khi ăn. Chỉ có 45% bếp nấu ăn được vệ sinh sạch sẽ. Các loại dụng cụ chế biến như: thớt, dao, kéo…không được vệ sinh sạch sẽ giữa các lần sử dụng để chế biến nhiều loại thực phẩm khác nhau chiếm 57%. Khảo sát cho thấy 335 hộ gia đình có bao gói các loại thực phẩm như thịt 6 tươi, cá, gia súc và đặt chúng phía trên các loại thực phẩm khác làm cho quá trình nhiễm khuẩn chéo dễ xảy ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thực hiện ATTP của các hộ gia đình chưa đạt theo các tiêu chuẩn cơ bản để đảm bảo an toàn sức khoẻ cho con người. Vì vậy, để đảm bảo sức khoẻ gia đình, hạn chế ngộ độc thực phẩm, nâng cao nhận thức an toàn thực phẩm cho người dân thì việc mở các lớp giáo dục cộng đồng là rất cần thiết [28]. Nghiên cứu “Phân tích những yếu tố tác động đến kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm ở khu đô thị của thành phố Varanasi” (2010) của Shuchi Rai Bhatt và cộng sự đã tiến hàng khảo sát trên 300 người nội trợ với bảng câu hỏi thiết kế sẵn về thói quen mua hàng và nhận thức của họ trong việc thực hiện vệ sinh ATTP ở Varanasi. Kết quả cho thấy, thói quen mua thực phẩm và thực hành an toàn vệ sinh thực phẩm của những người nội trợ sống tại khu đô thị ở Varanasi không liên quan đến độ tuổi. Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về học vấn của hai giới tính trong việc kiểm tra khi nhập hàng; tuổi và kiến thức không có mối liên quan với nhau nhưng học vấn lại có mối quan hệ với việc thực hành tốt. Điều này có thể do nhiều nhân tố; thu nhập, nhận thức và hiểu biết kém về sức khoẻ con người. Vì vậy, hiện nay có nhiều tổ chức và hoạt động của chính phủ đang cố gắng tuyên truyền dưới nhiều hình thức: ti vi và radio nhằm nâng cao nhận thức của người dân nhưng cho đến nay có nhiều người vẫn
6. PHƯƠNG PHÁP NGIÊN CỨU KHOA HỌC GVHD: TRẦN KIM CƯƠNG Page 6 chưa có thói quen tốt trong việc mua thực phẩm, thực hành an toàn và chọn nguồn nước sạch [31]. Các tác giả Sandra Buchler, Kiah Smith, Geoffrey Lawrence thuộc Đại học Queensland, Australia cũng đã có bài viết “Rủi ro thực phẩm, cũ và mới: Những đặc trưng nhân khẩu học và nhận thức về các chất phụ gia thực phẩm, quy định và sự nhiễm bẩn ở Australia” (2010) đăng trên tạp chí của Hội Xã hội học Australia. Bài viết này dựa trên những số liệu từ một cuộc điều tra quốc gia tại Australia nhằm đánh giá xem liệu nhận thức người tiêu dùng đối với những loại rủi ro thực phẩm có khác nhau tùy theo những nhân tố nhân khẩu học hay không. Nghiên cứu này có 2 trọng tâm chính: Những người quan tâm đến những rủi ro thực phẩm mới và những người quan tâm đến những rủi ro thực phẩm truyền thống. Đầu tiên, là điều tra thái độ và sự quan tâm đối với chất phụ gia thực phẩm và quy định về thực phẩm, được đặc trưng bởi những rủi ro mới liên quan 7 tới hóa chất, thuốc trừ sâu và các chất phụ gia, cũng như công nghiệp bảo vệ và những vấn đề của quy định đối với những nhân tố hiện đại này. Thứ hai, xem xét những loại rủi ro mang tính truyền thống hơn, liên quan tới sự nhiễm bẩn thực phẩm, như sự hư hỏng và quá hạn sử dụng. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, những người có thu nhập dưới 25.000 đô la mỗi năm, những người chưa hoàn thành trung học phổ thông và những người theo đạo có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến những loại rủi ro mang tính truyền thống. Ngược lại, phụ nữ, những người có học thức cao và những người già có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến những rủi ro mang tính hiện đại. Bài báo này ủng hộ những nghiên cứu trước đó và đã chỉ ra rằng, các nhóm khác nhau trong xã hội hiểu và có phản ứng khác nhau đối với an toàn rủi ro thực phẩm [29]. 10.2 Trong Nước. Ở nước ta, trong những năm qua, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung và an toàn thực phẩm gia đình nói riêng cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau, có thể kể đến một số những công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Đề tài “Đánh giá thực trạng công tác đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ở Đắc Lắc 5 năm (1998-2002)” của tác giả Nguyễn Hữu Huyên đã phân tích kiến thức, thái độ thực hành về vệ sinh ATTP của người tiêu dùng ở Đắc Lắc 5 năm (1998- 2002).

 

MÃ TÀI LIỆU: 0560

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

About hien

Check Also

Đề tài: Phương pháp dạy học nêu vấn đề, HAY

LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Trên thế giới Thuật ngữ “dạy học nêu …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *