Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn thạc sĩ ngành QTKD / LV: Tổ chức hoạt động bồi dưỡng nguồn nhân lực tại ban quản lý đầu tư – xây dựng

LV: Tổ chức hoạt động bồi dưỡng nguồn nhân lực tại ban quản lý đầu tư – xây dựng

1. Lý do chọn đề tài Trong xu thế phát triển của xã hội hiện đại, cùng với việc phát huy tiềm lực khoa học và công nghệ, nguồn tài chính, năng lực tiếp cận thị trường… thì chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố bảo đảm tính cạnh tranh của các quốc gia. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở thành đòi hỏi bức thiết quan trọng hàng đầu, nhằm đáp ứng trực tiếp cho nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp và các nhu cầu thiết yếu khác. Chính vì vậy, Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố thúc đẩy phát triển ứng dụng khoa học công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng với đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế cần phải đa dạng hoá các loại hình đào tạo, bồi dưỡng; thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, các cơ sở sử dụng lao động để phát triển nguồn nhân lực. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, những năm qua, Ban Quản lý đầu tư – xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm đã quan tâm, đầu tư vào con người thông qua các chính sách về tuyển dụng, đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm và đãi ngộ về tiền lương,… nhằm tạo động lực, tăng sự gắn kết, sự cống hiến của người lao động với Ban Quản lý. Tuy nhiên, qua thực tiễn còn tồn tại khá nhiều bất cập, hạn chế trong quản lý, tổ chức hoạt động bồi dưỡng nhân lực. Mặc dù, đội ngũ nhân lực ở đây có trình độ nhất định thể hiện qua bằng cấp và các chức danh đảm nhiệm nhưng trình độ chuyên môn, năng lực giải quyết công việc thực tế còn lúng túng, thậm chí có trường hợp biểu hiện
6. 6 sự yếu kém trong thực hiện chức trách của mình. Một trong những nguyên nhân hạn chế của vấn đề này là do hoạt động bồi dưỡng chưa thực hiện theo đúng qui trình, còn mang tính kinh nghiệm, chưa khoa học; việc kết hợp các phương pháp, hình thức bồi dưỡng chưa đa dạng; người lao động chưa tích cực, chủ động tự bồi dưỡng để nâng cao phẩm chất và năng lực của bản thân,… Do vậy, vấn đề đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng nhân lực phải được tiến hành thường xuyên, liên tục với những chính sách và bước đi thích hợp với tính chất, đặc điểm, chức năng nhiệm vụ của Ban Quản lý. Trên thực tế, về phương diện lý luận đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực, phát triển nhân lực ở các phương diện khác nhau. Tuy nhiên, dưới góc độ của khoa học quản lý giáo dục vấn đề bồi dưỡng nhân lực tại Ban Quản lý đầu tư – xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống. Xuất phát từ những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Tổ chức hoạt động bồi dưỡng nguồn nhân lực tại Ban Quản lý đầu tư – xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm” để làm luận văn tốt nghiệp. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Ở Phương Tây, từ lâu, các nhà kinh tế học đã nhận thức thấy tầm quan trọng của NNL và PTNNL. Chẳng hạn, Adam Smith đã nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục ở nhiều điểm khác nhau trong bài “Sự giàu có của các quốc gia”, ông cũng đã đưa nội dung “năng lực hữu ích và học được của tất cả mọi thành viên của xã hội” vào khái niệm là “vốn cố định” (Smith A., 1937). Afred Marshall nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục như “một sự đầu tư quốc gia” và theo quan điểm của ông “vốn giá trị nhất trong tất cả các loại vốn là vốn đầu tư vào con người” (Principles of Economics, 1930). Tuy nhiên, sau đó các nhà kinh tế học hiện đại không chú trọng nhiều lắm đến NNL đối với tăng trưởng kinh tế như một số nhà kinh tế học cổ điển như
7. 7 Smith và Marshall đã từng làm. Có lẽ bởi vì vốn tự nhiên là có thể đo đạc được và mối quan hệ giữa vốn và đầu ra được minh chứng ở mức độ tin cậy cách rõ ràng và do vậy một số nhà kinh tế học hiện đại dường như bỏ qua yếu tố NNL trong phát triển kinh tế. Khái niệm đầu tiên về vốn con người do Gary S. Becker (1964) và Theodore Schultz (1961) đưa ra. Thuyết về vốn con người đã và đang cung cấp một khuôn khổ cho chính sách chính phủ kể từ khi những năm 60 và đã trở thành một trong những lý thuyết có ảnh hưởng lớn trong giáo dục phương Tây. Nó đưa ra những minh chứng thuyết phục về vai trò của giáo dục và đào tạo như là những yếu tố chủ chốt thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức, các công ty, các tập đoàn lớn, và thậm chí toàn bộ quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu. Lý thuyết này xác nhận tầm quan trọng của học tập và giáo dục như quá trình tạo động lực cho việc xây dựng lợi thế cạnh tranh cho các công ty, tổ chức, và toàn bộ quốc gia. Đầu tư vào giáo dục sẽ tích luỹ vốn con người, là chìa khoá để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập. Giáo dục, đặc biệt là giáo dục cơ bản (giáo dục phổ thông cơ sở) cũng góp phần làm giảm đói nghèo nhờ tăng năng suất lao động của tầng lớp lao động nghèo, giảm sinh đẻ và tăng cường sức khoẻ, giúp mọi người đều có cùng cơ hội tham gia đầy đủ vào hoạt động xã hội và phát triển kinh tế. Ngoài ra, giáo dục giúp tăng cường các chức năng của xã hội dân sự, xây dựng tiềm năng và củng cố quản lý đất nước. Tất cả những điều đó ngày càng được công nhận là những yếu tố thiết yếu trong việc thực hiện có hiệu quả các chính sách kinh tế và xã hội khó khăn. Giáo dục góp phần vào tăng trưởng kinh tế, nhưng bản thân giáo dục sẽ không thể tạo ra sự tăng trưởng. Sự tăng trưởng nhanh nhất đạt được khi nền kinh tế thị trường cạnh tranh hàng hoá và các nhân tố sản xuất đầu tư vào cả con người lẫn vật chất. Những thị trường này là sản phẩm của các yếu tố ổn định kinh tế vĩ mô, thị trường lao động hiệu quả, hoà nhập với thương mại quốc tế và nguồn công nghệ từ bên ngoài. Sự tăng
8. 8 trưởng kinh tế chỉ thể hiện một phần ở nguồn lao động và vốn vật chất. Một bộ phận cấu thành quan trọng của tăng trưởng này sinh từ những cải tiến chất lượng lực lượng lao động, kể cả tăng cường giáo dục và y tế, cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật và hiệu quả kinh tế nhở qui mô (T.W. Schultz 1961: Denison 1967; Ngân hàng Thế giới 1991). Những thuyết tăng trưởng kinh tế mới cho rằng công nghệ thay đổi càng nhanh thì càng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế dài hạn. Về phần mình, công nghệ thay đổi nhanh hơn khi lực lượng lao động có trình độ cao hơn. Vì vậy, tích luỹ vốn con người, và đặc biệt là kiến thức, sẽ tạo điều kiện phát triển các công nghệ mới và là nguồn duy trì tăng trưởng (Romer 1986; Lucas 1988; Azariadis và Drazen 1990, Barro 1991). Ở Việt Nam vào những năm 1991-1992 với sự tài trợ của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), UNESCO phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bắt đầu triển khai Đề án nghiên cứu tổng thể về giáo dục và nguồn nhân lực VIE-89/022. Từ những năm đầu 90 cho đến nay, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam bắt đầu có những nghiên cứu sâu về NNL và PTNNL. Các công trình nghiên cứu khá đa dạng và thường được tiến hành thông qua các chương trình nghiên cứu cấp nhà nước, cấp bộ, hội thảo và các bài báo khoa học. Nội dung các nghiên cứu về NNL/PTNNL do các học giả Việt Nam tiến hành rất đa dạng và đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về vấn đề này. Tác giả Phạm Minh Hạc đưa ra khái niệm: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay là địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kĩ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (Phạm Minh Hạc, 2001). Về PTNNL, ông cho rằng đó là “phát triển con người như là một đơn vị động lực của
9. 9 nguồn nhân lực, là thức tỉnh, tích tụ, phát huy, sử dụng tiềm năng thành sức lao động xã hội tạo ra giá trị cho mình và cho người. Phát triển nguồn nhân lực con người trước hết là đào tạo con người có năng lực lao động, phát triển bản thân thực sự là chủ thể của lao động đủ trách nhiệm phát huy năng lực, tạo ra sản phẩm lao động; trên cơ sở các chính sách sử dụng lao động, thị trường việc làm, vào chế độ quản lý nguồn nhân lực”. Theo nghĩa hẹp hơn, tác giả Đỗ Minh Cương cho rằng “NNL là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa là bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp. Về độ tuổi, hiện nay có nhiều quy định khác nhau. Đa số các nước có quy định tuổi tối thiểu (thường là 15 tuổi), còn độ tuổi tối đa thường trùng với tuổi nghỉ hưu hoặc không giới hạn. Ở Việt nam, lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm” (Đỗ Minh Cương, 2002). Ông cho rằng “PTNNL là các hoạt động (đầu tư) nhằm tạo ra NNL với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân”. Vũ Văn Tảo coi “PTNNL được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị cho con người, trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực…, làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực và phẩm chất mới và cao hơn, tạo nên một nguồn vốn, một nguồn tài nguyên về con người có chất lượng lao động cao hơn, có thể khai thác, sử dụng, phát huy để phát triển đất nước” (Vũ Văn Tảo, 2002). Nguyễn Đức Trí phân tích rằng “NNL, theo quan niệm chung, mới chỉ bao hàm tiềm năng phát triển của con người. NNL chỉ trở thành động lực của sự phát triển đất nước khi nó được phát huy bằng cách phát triển nó (PTNNL) thông qua đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng, tạo hành lang pháp lý, chế độ, chính sách phù hợp cho nó.

 

MÃ TÀI LIỆU: 0196

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

About hien

Check Also

30 đề tài đạt điểm cao ngành kế toán xác định kết quả kinh doanh

Bạn là sinh viên chuyên ngành kế toán, bạn muốn làm đề tài kế toán …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *