Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn thạc sĩ ngành QTKD / LV: Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang.

LV: Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang.

1.Lý do chọn đề tài Cùng với sự phát triển của xã hội và bùng nổ như mạnh mẽ của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và phúc lợi xã hội, tuổi thọ của con người cũng theo đó dần được tăng lên, cuộc sống dần được cải thiện. Quy luật sinh – lão – bệnh – tử của kiếp nhân sinh là điều khó tránh khỏi, ai rồi cũng sẽ già, ai rồi cũng sẽ đến lúc mắt mờ, chân run. Nhưng làm thế nào để khi gần đến “cái dốc bên kia của cuộc đời” con người ta vẫn góp được chút gì đó có ích, có ý nghĩa cho cuộc đời. Có thể nói, tuổi già đang là một thách thức lớn của nhân loại vì vậy cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người có tuổi là yêu cầu rất chính đáng của xã hội đây không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân hay một tổ chức mà là một vấn đề mang tính toàn cầu. Như chúng ta đều biết, già hóa dân số đang là một trong những quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Già hóa dân số là thành quả của khoa học y tế, của phát triển kinh tế, phúc lợi xã hội nhưng già hóa cũng sẽ tác động đến phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và hệ thống phúc lợi xã hội đối với người cao tuổi. Người cao tuổi, họ là lớp người có quá trình cống hiến lâu dài cho gia đình, xã hội và đất nước và được coi là thế hệ duy trì tính liên tục phát triển của nhân loại, là lớp người nhiều tri thức, kinh nghiệm để truyền lại cho thế hệ tiếp theo. Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn quan tâm, chăm sóc, phát huy vai trò NCT thông qua việc đã ban hành nhiều văn bản, chính sách như: Luật Người cao tuổi, Chương trình hành động về Người cao tuổi… Cùng với các chính sách, nhiều mô hình chăm sóc NCT được triển khai trên cả nước, với sự tham gia của hàng triệu NCT. Xã Minh Quang là một trong 7 xã miền núi nằm ở sườn Tây núi Ba vì, cách trung tâm huyện Ba Vì 30 km, có 2628 hộ dân với dân số 12686 người,
12. 2 tuy là xã miền núi nhưng lại có NCT sinh sống khá đông với 2000 người (15,8%) dân số… (Báo cáo chung về tình hình kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội năm 2016) Cũng như NCT khác trên cả nước, NCT xã Minh Quang cũng cần được hỗ trợ quan tâm,chăm sóc của gia đình và cộng đồng. Từ một khía cạnh nào đó NCT đang gặp vấn đề cũng được coi là đối tượng yếu thế và cần sự quan tâm đặc biệt của xã hội.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “trách nhiệm của các vị phụ lão của chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại. Đất nước hưng thịnh do phụ lão xây dựng, đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức. Nước bị mất phụ lão cứu Nước suy sụp lão phù trì Nước nhà hưng, suy tồn, vong, phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề…” NCT có phát triển khỏe mạnh thì nền an sinh mới phát triển được. Công tác xã hội ở Việt Nam đã được công nhận là một ngành khoa học, là một nghề có đặc thù trợ giúp những đối tượng yếu thế trong xã hội, trong đó có NCT. Nhân viên xã hội cần tìm hiểu về các chính sách của Đảng, Nhà nước với đối tượng này, tham khảo học tập những mô hình trợ giúp trên thế giới và đặc biệt cần tìm hiểu sâu về đặc điểm và nhu cầu của chính đối tượng NCT để trợ giúp một các tích cực nhất, chính sách của NCT phải gắn với thực tế và phải được tuyên truyền rộng rãi. Việc chăm sóc NCT trên địa bàn còn nhiều bất cập cụ thể là NCT không được quan tâm chăm sóc chu đáo, sự xung đột giữa NCT với con cháu… trên địa bàn xã Minh Quang chưa tiến hành thực hiện một ca cá nhân nào và chưa nghiên cứu về công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi. Từ thực tế trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang, huyện Ba Vì, TP Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình với mong muốn vận dụng kiến thức đã học để áp dụng vào thực tiễn góp phần hỗ trợ người cao tuổi xã Minh Quang, đó là tiến trình giúp đỡ của một nhân viên công tác xã hội giúp đỡ thân chủ của mình thay đổi suy nghĩ, hành động tích cực. Đồng thời, tôi cũng
13. 3 đã học được thêm nhiều kiến thức thực tế trong quá trình làm việc với thân chủ và có được nhận thức rõ hơn về ngành nghề công tác xã hội nói chung và công tác xã hội cá nhân nói riêng. Bài nghiên cứu còn khá nhiều thiếu sót tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo để bài viết có thể hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! 2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong thời gian gần đây, cùng với những thách thức của xu hướng già hóa, người cao tuổi đã trở thành đối tượng thu hút sự chú ý của các nghiên cứu xã hội học và sự quan tâm của toàn xã hội. Đây là nhóm đối tượng già yếu dễ bị tổn thương trong xã hội bởi một số đặc điểm tâm lý đặc trưng của tuổi già. Sự già hóa sẽ mang đến những thách thức mới về kinh tế và xã hội, đặc biệt là vấn đề an sinh xã hội. Các nghiên cứu ở Việt Nam về NCT thường tiếp cận theo hướng coi họ là nhóm yếu thế hoặc nhóm xã hội phụ thuộc. Với cách tiếp cận này với chủ đề nổi bật trong các nghiên cứu về NCT là: vấn đề sức khỏe, chính sách cho NCT, rộng hơn là vấn đề an sinh xã hội và tìm hiểu các đặc trưng xã hội cơ bản của nhóm dân số già. Các hướng phân tích được triển khai theo nhiều khía cạnh như: mô tả đặc trưng xã hội cơ bản của nhóm NCT, đánh giá và đo lường các yếu tố tác động… Và trọng tâm nghiên cứu cũng tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động của từng ngành.Ví dụ, đối với ngành lão khoa chú trọng nhiều đến vấn đề sức khỏa và bệnh tật.Tương tự, Bộ Y tế tập trung nhiều khía cạnh sức khỏe và tâm sinh lý NCT, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Bộ Lao động, Thương binh và xã hội tiến hành các cuộc điều tra nhằm phục vụ cho việc lập chính sách NCT. Cuối cùng, đối với nhà nghiên cứu khoa học xã hội như xã hội học, tâm lý học, dân tộc học,… lại xem xét vấn đề NCT từ
14. 4 những đặc trưng xã hội cơ bản và đặt nó trong mối tương quan với các yếu tố kinh tế – xã hội, chỉ ra những khác biệt vùng, miền, tộc người… Có thể nói sự nghèo khổ, bệnh tật, không người chăm sóc là những vấn đề mà NCT nói chung đang phải đối mặt. Ở Việt Nam, việc chăm sóc NCT trong gia đình được duy trì qua nhiều thế hệ, tuy nhiên truyền thống này đã có nhiều thay đổi do gia đình nhiều thế hệ ngày càng thu hẹp, trong khi gia đình hạt nhân tăng lên. Một tỷ lệ lớn NCT do những hoàn cảnh khác nhau sẽ không sống cùng con cháu trong gia đình nhiều thế hệ. Chính vì vậy mà các chủ đề về nguồn lực vật chất và vấn đề chăm sóc sức khỏe là hướng nghiên cứu chủ yếu và từ đó đưa ra các kiến nghị về mặt chính sách an ninh cho NCT. Nhìn chung các kết quả nghiên cứu kể trên được rút ra từ các dữ liệu nghiên cứu định tính, định lượng, phạm vi nghiên cứu là khá đa dạng, đại diện cho một xã, một vùng (ví dụ: Nghiên cứu của Viện Xã hội học về người già ở đồng bằng sông Hồng; Nghiên cứu của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam…), mẫu đại diện quốc gia như Điều tra gia đình Việt Nam (2006), hoặc dữ liệu từ các điều tra lớn của Tổng cục thống kê… Phương pháp phân tích hoặc chỉ sử dụng định lượng hoặc định tính, hoặc kết hợp định lượng và định tính. Mỗi phương pháp phân tích có những điểm hạn chế và ưu điểm riêng, một số nghiên cứu ít bàn luận sâu về số liệu và phương pháp phân tích.Và điểm dễ nhận thấy là ở các nghiên cứu định lượng, phương pháp phân tích chủ yếu là mô tả tần suất và tương quan hai biến. Có một số nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đa biến để xem xét các yếu tố tác động đến quan hệ giữa NCT và con cháu trong gia đình như nghiên cứu của Lê Ngọc Lân và các tác giả (2011). Như vậy, có thể nói rằng các công trình về NCT cho đến nay đã góp phần mang lại những hiểu biết sâu sắc về cuộc sống của NCT ở Việt Nam, song các nghiên cứu về CTXH với NCT hiện nay còn khá khiêm tốn, có thể kể đến một số nghiên cứu sau:
15. 5 Trước hết cần kể đến nghiên cứu “Công tác xã hội với người cao tuổi bị bạo lực gia đình” – Nghiên cứu tại xã An Tường, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội, của tác giả Phùng Thanh Thảo (2014). Kết quả nghiên cứu cho thấy bạo lực gia đình với NCT xảy ra ở khắp mọi nơi, không kể địa vị gia đình, trình độ dân trí.Đó là thực trạng về bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần và bạo lực kinh tế. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình, tuy nhiên có 4 yếu tố chủ yếu là: rượu, bia và các chất kích thích; yếu tố kinh tế; yếu tố nhận thức; yếu tố giới tính. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số biện pháp đã áp dụng tại địa phương nhằm giảm thiểu tình trạng bạo lực NCT trong gia đình, đồng thời đề xuất một số biện pháp can thiệp.

 

MÃ TÀI LIỆU: 0361

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

 

About hien

Check Also

Luận văn: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại thành phố HCM

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN Mục tiêu của chƣơng này là trình bày một nền tảng …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *