Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn thạc sĩ ngành Luật / Luận văn: Tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo Bộ luật hình sự, HAY

Luận văn: Tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo Bộ luật hình sự, HAY

1. Tính cấp thiết của đề tài Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực tồn tại trong mọi xã hội có giai cấp. Đấu tranh phòng, chống tội phạm để bảo vệ lợi ích hợp pháp và duy trì trật tự xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà nước ta, Bộ luật hình sự được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Bộ luật hình sự lần đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thông qua ngày 27/6/1985 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1986. Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự, để phục vụ kịp thời công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng giai đoạn cụ thể, Nhà nước ta đã 4 lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật này. Đến ngày 21/12/1999 Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật hình sự mới thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 và tiếp tục sửa đổi bổ sung vào ngày 19/6/2009. Lần đầu tiên định nghĩa pháp lý về chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm được các nhà làm luật ghi nhận trong Bộ luật hình sự năm 1985 với ý nghĩa vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Phần chung vừa là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của nhiều loại tội trong Phần riêng của Bộ luật hình sự. Chế định này tiếp tục được kế thừa những nhân tố hợp lý và sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật hình sự năm 1999 cho phù hợp với sự phát triển của xã hội, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm. Vấn đề tái phạm, tái phạm nguy hiểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt và cả đối với việc ấn định chế độ thi hành hình phạt đối với người phạm tội. Vì vậy, nó phụ thuộc rất lớn vào việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là hoạt động xét xử của Tòa án. Trong những năm qua, Toà án nhân dân các cấp trong ngành Toà án thành phố Hà Nội đã xét xử nhiều hành vi phạm tội đảm bảo đúng người,
10. 2 đúng tội, đúng pháp luật, có tác dụng cải tạo, giáo dục người phạm tội, đảm bảo mục đích đấu tranh phòng ngừa chung, phục vụ nhiệm vụ chính trị của thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong điều tra, truy tố, xét xử vẫn có nhiều trường hợp không đúng với quy định của pháp luật và còn có những ý kiến chưa thống nhất, có trường hợp hành vi phạm tội chỉ là tái phạm nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng lại xác định là tái phạm nguy hiểm, có trường hợp hành vi phạm tội là tái phạm nguy hiểm nhưng lại xác định là tái phạm hoặc có trường hợp thì xác định tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong khi đó nó phải là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt…Áp dụng pháp luật về tái phạm, tái phạm nguy hiểm sai đã dẫn đến những hậu quả pháp lý tiêu cực cho chính người phạm tội và cho cả Nhà nước, từ đó làm suy giảm hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và không thể hiện được nguyên tắc xử lý người phạm tội của Nhà nước ta đó là: Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng [34, tr.48]. Nguyên nhân của những sai sót này là do chưa nhận thức đúng bản chất của chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Mặt khác, do chưa được hướng dẫn đầy đủ nên việc xác định cũng như việc áp dụng chế định này còn nhiều vướng mắc, cần có sự hướng dẫn thống nhất. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt khoa học các quy định hiện hành của Bộ luật hình sự Việt Nam về chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm và thực tiễn áp dụng; đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
11. 3 của việc áp dụng những quy định của chế định này có ý nghĩa về mặt lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng. Đây là lý do tôi quyết định lựa chọn đề tài “Tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo Bộ luật hình sự Việt nam năm 1999 (trên cơ sở số liệu xét xử của ngành Toà án Hà Nội)” làm đề tài cho Luận văn Thạc sĩ Luật học. Khi thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn làm sáng tỏ vấn đề lý luận liên quan đến tái phạm, tái phạm nguy hiểm, góp phần hoàn thiện chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong Luật hình sự Việt Nam, chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng chế định này trong thực tiễn xét xử và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác xét xử án hình sự ở ngành Toà án nhân dân thành phố Hà Nội nói riêng và ngành Toà án nói chung. 2. Tình hình nghiên cứu Chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm là vấn đề hết sức quan trọng trong quyết định hình phạt đối với người phạm tội, việc áp dụng chế định này trong thực tiễn không chỉ là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà còn là hoạt động của các cá nhân, tổ chức khác quan tâm, nghiên cứu. Đã có một số công trình nghiên cứu của các luật gia trong và ngoài nước nghiên cứu về chế định này như: 2.1. Các công trình đã viết thành sách “Nghiên cứu về chế định đa (nhiều) tội phạm” trong sách “Các nghiên cứu chuyên khảo của phần chung luật hình sự” tập IV, NXB Công an nhân dân, Hà Nội năm 2002 của TSKH Lê Cảm; “Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự”, phần chung, chương IV, NXB Đại học quốc gia Hà Nội năm 2005 của TSKH. PGS Lê Cảm; “Nhiều tội phạm (Chương XV, giáo trình Luật hình sự Việt Nam)” do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên; “Nhiều tội phạm”, NXB Công an nhân dân năm 2010 của TS Lê Văn Đệ; “Một số vấn đề
12. 4 lý luận về định tội danh và hướng dẫn phương pháp định tội danh”, – PGS. TS. Trịnh Quốc Toản; Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (2005), Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội “Giáo trình Luật hình sự” của trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân – 2003; “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự” (Phần chung) của tác giả Đinh Văn Quế, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh – 1999.

 

MÃ TÀI LIỆU: 10094

 

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN ( VÍ DỤ: 0324 – trinhnam34gmailcom) có thể bỏ chữ @ mới gửi được)
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

About hien

Check Also

Phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan khác, 9đ

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thi hành án dân sự (THADS) …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *