Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn thạc sĩ ngành Luật / Luận văn: So sánh đối tượng chứng minh theo luật tố tụng, HOT

Luận văn: So sánh đối tượng chứng minh theo luật tố tụng, HOT

1. Tính cấp thiết của đề tài Cũng như các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự, pháp luật tố tụng hình sự là công cụ hữu hiệu của Đảng và Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật. Bởi vì, pháp luật tố tụng hình sự là hệ thống các quy phạm quy định trình tự, thủ tục, các giai đoạn tố tụng; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức và công dân… nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, đáp ứng yêu cầu “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” [11, tr. 131] trong giai đoạn hiện nay. Trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý tố tụng hình sự nhưng không có văn bản nào trực tiếp quy định về chứng cứ và đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, để có cơ sở pháp lý để giải quyết vụ án trong thực tiễn, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an đã có những ghi nhận các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự dựa trên tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong nước và tiếp thu từ pháp luật tố tụng của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô. Năm 1988, BLTTHS đầu tiên của nước ta được ban hành và có hiệu lực thi hành từ 01/01/1989 (đã có những chế định cụ thể quy định về đối tượng chứng minh
8. 8 trong vụ án hình sự), Bộ luật ra đời là kết quả tổng kết kinh nghiệm của hơn 40 năm hoạt động tư pháp hình sự, bước đầu đã thể hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV. Bộ luật được ban hành đã phát huy tác dụng tích cực trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng đạt được mục đích và nhiệm vụ đặt ra là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân… Để đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng giai đoạn nhất định, BLTTHS năm 1988 đã ba lần được sửa đổi, bổ sung (7/1990, 12/1992 và 6/2000) để đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động tố tụng hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động tư pháp hình sự cho thấy, qua các lần sửa đổi, bổ sung, BLTTHS năm 1988 vẫn còn bất cập. Vì vậy, Quốc hội khóa XI đã thông qua việc ban hành BLTTHS năm 2003 thay thế BLTTHS năm 1988. Đánh giá một cách tổng thể, BLTTHS năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung nhiều vấn đề chưa được quy định trong BLTTHS năm 1988 nhưng nhìn chung, chế định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự giữa hai Bộ luật này không có sự khác nhau nhiều. Mặc dù đã được ghi nhận trong pháp luật thực định nhưng cho đến nay BLTTHS năm 2003 nói chung và chế định về đối tượng chứng minh nói riêng vẫn còn một số hạn chế: “Hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, hình sự… nói chung và các quy định liên quan đến hoạt động chứng minh tội phạm còn chưa đồng bộ và hoàn thiện…” [12] vì vậy cần phải được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện. Trong thực tiễn công tác phát hiện và xử lý tội phạm, việc làm rõ đối tượng chứng minh có ý nghĩa quyết định trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan cũng như bản chất của vụ án, là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền kết luận hành vi đã thực hiện là tội phạm hay không phải là tội phạm, nếu là tội phạm thì ai là người thực hiện tội phạm đó và trách nhiệm

 

MÃ TÀI LIỆU: 19297

 

  • PHÍ TÀI LIỆU: 35.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN ( VÍ DỤ: 0324 – trinhnam34gmailcom) có thể bỏ chữ @ mới gửi được)
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

About hien

Check Also

Phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan khác, 9đ

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thi hành án dân sự (THADS) …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *