Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn thạc sĩ ngành QTKD / Luận văn: Hoạt động công tác xã hôi trong giảm nghèo bền vững, HAY

Luận văn: Hoạt động công tác xã hôi trong giảm nghèo bền vững, HAY

1. Lý do chọn đề tài Do xuất phát điểm của nền kinh tế, cùng trình độ tổ chức, quản lý xã hội của đất nước khi bước vào giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn thấp, nên vấn đề bảo đảm an sinh xã hội trong đó có xóa đói, giảm nghèo, giảm nghèo bền vững đã được Đảng, Nhà nước xác định là mục tiêu, biện pháp cần tiến hành kiên trì, bền bỉ trong một thời gian dài. Xóa đói, giảm nghèo vừa nâng cao chất lượng nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc; vừa góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội; giảm bớt chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư; vừa thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang hướng tới, dù mới chỉ ở thời kỳ quá độ. Qua các kỳ đại hội, quan điểm của Đảng về xóa đói, giảm nghèo, giảm nghèo bền vững từng bước được xác lập, làm rõ và hiện thực hóa trên thực tế qua sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này được thực hiện thông qua việc ban hành các chính sách hướng tới các đối tượng bị thua thiệt, áp dụng cho những vùng, miền chịu nhiều khó khăn, không thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội do thiên tai, xa các trung tâm kinh tế – xã hội; bằng các biện pháp đầu tư đặc biệt, các chủ trương, chính sách ưu đãi. Các nguồn lực cho xóa đói, giảm nghèo từ ngân sách nhà nước; từ các nguồn tài trợ trong nước và quốc tế. Từ thực tế đất nước, bắt đầu từ Đại hội VI (năm 1986) trong nhận thức của Đảng chấp nhận sự phân hóa nhất định trong một số lĩnh vực giữa các tầng lớp nhân dân, đồng thời coi việc từng bước hạn chế sự phân hóa đó là nhiệm vụ quan trọng cần phải thực hiện, bởi đó chính là mục tiêu của Đảng: lo cho mọi người dân đều có cơ hội, có điều kiện để phát triển và đều được hưởng những thành quả do sự nghiệp xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng mang lại. Tại Đại hội VII, Đảng ta khẳng định bước đầu thực hiện “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự
12. 2 quản lý của Nhà nước”(1). Đại hội VIII, Đảng “thừa nhận trên thực tế còn có bóc lột và sự phân hóa giàu nghèo nhất định trong xã hội”, nhưng khẳng định “luôn quan tâm bảo vệ lợi ích của người lao động… coi trọng xóa đói, giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội…”(2), đồng thời, nhấn mạnh “Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội”(3) bằng nhiều biện pháp, trong đó có xóa đói, giảm nghèo. Sau 10 năm, đến Đại hội X, Đảng ghi nhận: “Công tác xóa đói, giảm nghèo được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức, đã thu được nhiều kết quả tốt thông qua việc trợ giúp điều kiện sản xuất, tạo việc làm, cải thiện kết cấu hạ tầng, nhà ở, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, tăng thu nhập, cải thiện đời sống; động viên các ngành, các cấp, các đoàn thể quần chúng và các tầng lớp dân cư tham gia”(4). Tuy nhiên, “Kết quả xóa đói, giảm nghèo chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn lớn. Khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng có xu hướng doãng ra”(5). Nguyên nhân của những thiếu sót, trong đó có vấn đề xóa đói giảm nghèo được Đại hội X xác định và chỉ rõ. Đại hội cũng rút ra nhiều bài học, trong đó nhấn mạnh: “khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo”. Mục đích của công tác xã hội với người nghèo nhằm giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng nghèo nâng cao năng lực để thoát nghèo bền vững, giúp họ đối mặt, vượt qua những rủi ro như thất học, thiếu việc làm, thiếu vốn… Bên cạnh đó, còn thúc đẩy các điều kiện xã hội để cá nhân, gia đình nghèo tiếp cận được các chính sách, nguồn lực xã hội, đáp ứng nhu cầu cơ bản. Công tác xã hội với người nghèo, vì thế, nên là hoạt động trợ giúp chuyên nghiệp nhằm nâng cao năng lực, chức năng xã hội của người nghèo; thúc đẩy các chính sách liên quan tới nghèo đói; huy động các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nghèo giải quyết vấn đề nghèo đói và hướng tới bảo đảm an sinh xã hội.
13. 3 Thành phố Nam Định nằm ở nam đồng bằng sông Hồng, có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự an cư của người dân và phát triển kinh tế. Cùng với sự phát triển của xã hội, tỉ lệ hộ nghèo của Nam Định giảm, tốc độ giảm nghèo khá nhanh. Tuy nhiên, sự phân hoá giàu – nghèo giữa các khu vực và tầng lớp dân cư ngày càng rõ và tình trạng bất bình đẳng vẫn còn tồn tại. Người nghèo thường có mức thu nhập, chi tiêu thấp, tài sản ít, trình độ dân trí không cao, tay nghề kém và thiệt thòi trong việc hưởng thụ các dịch vụ xã hội. Thực tế đó đặt cho thành phố nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo trong thời gian tới. Từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài:“Hoạt động Công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định” làm đề tài nghiên cứu của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Giảm nghèo ở Việt Nam không chỉ là vấn đề chính sách mà còn là một vấn đề xã hội nổi bật, là chủ đề của rất nhiều các nghiên cứu, đánh giá được thực hiện bởi các tổ chức trong và ngoài nước. Các nghiên cứu về giảm nghèo đã được thực hiện từ rất sớm, từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, gắn liền với việc thực hiện các chính sách giảm nghèo. 2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Cuốn sách “Sự giàu và nghèo của các dân tộc – Vì sao một số giàu đến thế mà một số lại nghèo đến thế” của David S. Landes (2001). Đây là bộ sách có tính lịch sử về các vấn đề liên quan đến nghèo. Những sử liệu và sự việc phong phú được chọn lọc cẩn thận, bao quát không gian toàn cầu và trong thời gian dài, cụ thể đến từng nước, từng thành phố, từng ngành kinh tế, từng loại doanh nghiệp, từng thời kỳ lịch sử ngắn, sự trình bày sử liệu đan xen với sự phân tích của tác giả. Điểm đặc biệt của cuốn sách là cách nhìn của tác giả về lịch sử kinh tế không chỉ đơn thuần kinh tế mà đặt trong tổng thể kinh tế – xã hội, làm nổi bật những mối tương tác giữa kinh tế với các lĩnh vực khác, nhất là văn hóa. Về mỗi thời kỳ lịch sử, về mỗi quốc gia, dân tộc, cuốn sách
14. 4 đều nêu lên được những kinh nghiệm bổ ích, những điều đáng suy ngẫm, trong đó có những điều có ý nghĩa thiết thực đối với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta hiện nay. Tuy nhiên, với phương pháp phân tích như tự sự của người dẫn truyện kể về những trải nghiệm của chính tác giả về những vùng đất mà tác giả đã từng đặt chân đến, từng có những công trình nghiên cứu thì góc nhìn và đánh giá của tác giả là rất rộng và trải đều đối với tất cả các dân tộc nên khía cạnh riêng, sâu sắc của từng dân tộc phần nào còn hạn chế. Tài liệu nghiên cứu “Giảm đói nghèo ở Việt Nam: những con số nói lên điều gì?” của Litchfeld, J và Justino (Đại học Sussex, Brighton, 2002). Tài liệu tập hợp toàn bộ những số liệu điều tra, thống kê về tình trạng đói nghèo và công tác xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian từ năm 1992 đến 2002. Qua đó, chỉ ra những thành tích đã đạt được và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết để công tác xóa đói, giảm nghèo bền vững hơn. Đây là một nghiên cứu khoa học được điều tra trên phạm vi cả nước với nhiều số liệu cụ thể của một giai đoạn lịch sử, đây sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích để có cái nhìn toàn diện về vấn đề giảm nghèo chung của cả nước. Bài báo “Những vấn đề của phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay: các cách tiếp cận” (Đặng Thế Truyền dịch), Tạp chí Xưa và Nay từ số 408 (7/2012) đến 413 (10/2012) của Philip Taylor. Ở loạt bài này, tác giả phân tích những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông thôn vùng ĐBSCL qua nghiên cứu về đời sống, phong tục tập quán, tôn giáo, tâm lý dân tộc, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng… trong toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội và ảnh hưởng của kinh tế tri thức cùng những chính sách của Chính phủ. Trong đó, đề cập đến những định kiến về nguyên nhân nghèo đói nơi người Khmer ở Nam bộ dưới góc nhìn của một nhà xã hội học người nước ngoài. Loạt bài viết này là tài liệu rất tốt cho nghiên cứu của đề tài. Tuy nhiên, đây chỉ là những bài viết mang tính thực tiễn, không đề cập đến khung lý
15. 5 thuyết trong nghiên cứu. Và do nhìn vấn đề xã hội của Việt nam trong lăng kính của một người nước ngoài nên không tránh khỏi có những nhận xét, đánh giá mang tính chủ quan không phải trên quan điểm dân tộc của Đảng. 2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Cuốn sách “Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay” do Nguyễn Thị Hằng chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997). Trong cuốn sách, tác giả đã nêu lên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề đói, nghèo; kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo của các nước trong khu vực; thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam trong quá trình chuyển sang kinh tế tri thức; phương hướng và biện pháp chủ yếu xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta. Tài liệu này tiếp cận ở địa bàn rất rộng trên phạm vi cả nước và tiếp cận ở góc độ xã hội nên chủ yếu phân tích, đánh giá những ảnh hưởng xã hội của tình trạng nghèo đói ở nông thôn. Luận án Tiến sỹ “Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay” của Trần Thị Hằng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001) phân tích về sự tác động của kinh tế tri thức đến phân hóa giàu nghèo ở nước ta và những giải pháp để giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách khi kinh tế tri thức ngày càng tác động sâu rộng đến toàn bộ đời sống xã hội. Tuy nhiên, Luận án nghiên cứu vấn đề giảm nghèo nói chung nên không đi sâu vào các hoạt động cụ thể hỗ trợ giảm nghèo. Luận văn “Giải pháp tín dụng góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam” của Đào Tấn Nguyễn (2004) đã phân tích về hoạt động tín dụng cho vay hộ nghèo tham gia chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam đồng thời điểm qua hoạt động cửa Qũy tình thương của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với vốn cho vay được lập lại nhiều lần, mức vay tăng dần từ nhỏ đến lớn, lãi suất cho vay ngang bằng với lãi suất thị trường, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm ban đầu về tín dụng cho người nghèo, ý thức tiết kiệm và hỗ trợ lẫn nhau gữa phụ nữ nghèo
16. 6 và tính chất xã hội hóa về công tác xóa đói giảm nghèo thông qua Hội Liên hiệp phụ nữ cùng với dịch vụ tín dụng.

 

MÃ TÀI LIỆU: 0364

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

 

About hien

Check Also

30 đề tài đạt điểm cao ngành kế toán xác định kết quả kinh doanh

Bạn là sinh viên chuyên ngành kế toán, bạn muốn làm đề tài kế toán …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *