Luận văn: Công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật.

Luận văn quản trị kinh doanh

1. Lý do chọn đề tài Ở bất kỳ quốc gia, cộng đồng dân cư nào cũng có một bộ phận dân cư là người khuyết tật (NKT). Đây là một bộ phận dân cư cần đến sự trợ giúp của Nhà nước và xã hội. Theo ước tính của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) năm 2015 cả nước có trên 7 triệu NKT (chiếm 7,8% dân số) trong đó 4,06 triệu là nữ (chiếm 58%NKT), 1,981 triệu trẻ em (chiếm 28,3% NKT) và 714 nghìn là người cao tuổi (chiếm 10,2% NKT). Theo dạng tật, có 28% là NKT dạng vận động, 15% khuyết tật nghe nói, 16% khuyết tật nhìn, 17% khuyết tật thần kinh, tâm thần, 15% khuyết tật trí tuệ, 12% các dạng khuyết tật khác [3]. Việt Nam đã ban hành thực hiện chính sách và các đề án trợ giúp NKT về chăm sóc về đời sống, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tiếp cận giáo dục, hạ tầng cơ sở, công nghệ thông tin, dạy nghề tạo việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản. Hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật là một trong những giải pháp quan trọng, giúp cho người khuyết tật có được việc làm, thu nhập, tự bảo đảm cuộc sống, hòa nhập xã hội. Trong đó, công tác xã hội (CTXH) có vai trò quan trọng trong nâng cao nhận thức, huy động nguồn lực, tạo việc làm, ổn định sinh kế. Theo số liệu thống kê tình hình thực hiện chính sách, năm 2016 tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng cho 14.191 NKT (1.927 NKT đặc biệt nặng, 12.264 NKT nặng) [29]. Phần lớn NKT ở độ tuổi lao động, có trình độ văn hóa thấp, không có chuyên môn đào tạo, thiếu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, cộng thêm vào đó sức khỏe yếu đã dẫn đến đời sống rất khó khăn. Để bảo đảm ổn định cuộc sống và hòa nhập thì ngoài trợ cấp xã hội hàng tháng, tỉnh cũng đã thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ sinh kế NKT như dạy nghề, tạo việc làm, hướng dẫn cách làm ăn, phục hồi chức năng lao động, nhà ở. Trong đó đã sử dụng chuyên môn, nghiệp vụ
12. 2 CTXH. Nhờ đó mà đời sống vật chất, tinh thần của NKT, hộ gia đình NKT từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, kết quả này chỉ dừng lại ở bước đầu. Đặc biệt mới tiếp cận trên quan điểm hỗ trợ phát triển kinh tế, giảm nghèo, chưa thật phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của NKT. Do những đặc điểm củaNKT, cùng với các giải pháp hỗ trợ phát triển kinh tế nói chung, cần có các giải pháp, biện pháp, phương pháp công tác xã hội thực hiện song song thì mới phát huy hiệu quả, tính bền vững trong sinh kế cho người khuyết tật. Tổng quan tài liệu nghiên cứu cho thấy đã có nhiều nghiên cứu về quyền của NKT, các giải pháp chính sách hỗ trợ NKT. Nhưng chưa có nghiên cứu về CTXH trong hỗ trợ sinh kế đối với NKT. Trong đó, CTXH được nhìn nhận vừa là quan điểm tiếp cận, vừa là công cụ, phương pháp trực tiếp, gián tiếp để hỗ trợ NKT điều kiện tự bảo đảm sinh kế cho mình. Nhất lại là nghiên cứu vấn đề này ở địa bàn đô thị như thành phố Bắc Ninh. Từ những lý do trên, tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài “Công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với Người khuyết tật tại Thành phố Bắc Ninh” nhằm mang đến góc nhìn mới về việc hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật với vai trò của CTXH. 2. Tổng quan nghiên cứu Nghiên cứu về NKT là nội dung được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới đề cập đến. Cụ thể: Synnove Karvinen – Niinikoski, tác phẩm “Nhân quyền, quyền xã hội công dân và phương pháp cá nhân cùng tham gia trong công tác xã hội với người khuyết tật” [30], đã viết các cách thức của công tác xã hội đối với NKT có trong các tuyên bố nhân quyền hoặc được đưa vào các chương trình chính sách khuyết tật của Phần Lan. Tuy nhiên, trên thực tế NKT không thể thực hiện các quyền và tự do của họ hoặc thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Nhân viên CTXH ở tuyến đầu và nhân viên chăm sóc xã hội hoặc các nhà
13. 3 hoạt động phi chính phủ tiếp cận và gần gũi với NKT, gia đình trong cuộc sống hàng ngày của họ. Sự hỗ trợ đó cũng góp phần nâng cao vị thế của NKT để họ đạt được các các mục tiêu cuộc sống mà họ đề ra, tăng cường quyền tự quyết của NKT bằng cách xây dựng năng lực và quyền ra quyết định thông qua gây dựng sự tự tin, lòng tự trọng, tính chủ động và kiểm soát cuộc sống. Tổ chức lao động quốc tế ILO (2006), trong báo cáo “Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho NKT qua hệ thống pháp luật – và trẻ em tàn tật và quyền của các trẻ em” đã chỉ ra trên thế giới có hơn 600 triệu người (10% dân số thế giới) có khiếm khuyết về mặt thể chất, cảm giác, trí tuệ hoặc tâm thần dưới các hình thức khác nhau. Quốc gia nào cũng có NKTvà hơn 2/3 trong số đó sống tại các nước phát triển. Hằng năm sẽ có thêm khoảng 10 triệu người khuyết tật, tính trung bình một ngày trên thế giới tăng khoảng 25.000 NKT (2,5 vạn người) [34]. Tổ chức Lao động quốc tế (2010), “Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và Việc làm cho người khuyết tật Việt Nam”đã cung cấp một cách nhìn tổng thể về các tổ chức của NKT, các tổ chức vì NKT và các dịch vụ dạy nghề, việc làm và phát triển cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT, cơ sở sản xuất kinh doanh có tuyển dụng NKT vào làm việc. Trong đó tập trung đối với các cơ sở của phụ nữ khuyết tật, dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyết tật. Cùng với những thành công đã đạt được trong quá trình thực hiện Bộ Luật lao động, Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998, Báo cáo đã chỉ ra giai đoạn từ năm 2010 trở về trước ở Việt Nam NKT rất ít được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm, cũng như thành lập và phát triển các cơ sở kinh doanh của mình. Hệ thống pháp luật cũng chưa có những quy định đầy đủ và toàn diện về lĩnh vực này. Trong khi đó các chính sách đã có thì việc tổ chức triển khai thực hiện còn yếu, có những chính sách hầu như không được triển khai trong lúc nhu cầu trợ giúp tìm, giải quyết việc làm của NKT thì nhiều [18].
14. 4 Brenda Gannon and Brian Nolan (2011), Nghiên cứu khuyết tật hòa nhập xã hội ở Ieland, Brenda Gannon and Brian Nolan đã xem xét NKT có hoàn cảnh khó khăn khi hòa nhập xã hội, trong nghiên cứu đã thu thập trình độ học vấn, kinh tế và tham gia xã hội… Đồng thời chỉ ra mặc cảm tự ti là một trong những yếu tố cản trở NKT tham gia hòa nhập xã hội và cuộc sống hàng ngày. Đây chính là sự khác biệt giữa NKT và người bình thường trong việc tham gia hòa nhập cộng đồng. Thống kê các số liệu thu thập được để đánh giá mức độ nghèo, sự tham gia vào giáo dục, y tế, việc làm… của NKT. Nghiên cứu còn nhấn mạnh tới yếu tố NKT ảnh hưởng tới đời sống của mình, thiết kế nơi làm việc không phù hợp, sự kỳ thị của cộng đồng, sự tiếp cận các phương tiện đi lại gây khó khăn cho NKT [7]. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2011), “Báo cáo kết quả khảo sát người khuyết tật năm 2011” đã tổng hợp số liệu kết quả khảo sát 2.022 NKT (nữ chiếm 43,5%). Trong đó nhóm tuổi dưới 15 tuổi là 196 người, chiếm 9,69%, nhóm tuổi từ 15 -18 tuổi là 87 người, chiếm 4,3%, nhóm tuổi từ 19 -60 tuổi là 1200 người, chiếm 59,35% và nhóm tuổi trên 60 tuổi là 539 người, chiếm 26,66%. Báo cáo phân tích về thực trạng đời sống, nhu cầu và kết quả thực hiện chính sách đối với NKT và hộ gia đình họ. Nghiên cứu cho thấy đời sống của NKT đã có sự thay đổi đáng kể so với trước, các địa phương đã và đang triển khai thực hiện Luật NKT và các chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với NKT. Riêng về chính sách trợ giúp tạo việc làm, việc tổ chức thực hiện rất khó khăn do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó khó nhất là tìm được hoặc tạo được việc làm phù hợp, cho dù trong nhiều năm địa phương đã có những kế hoạch, biện pháp giải quyết việc làm, những kết quả đạt được rất hạn chế và cho đến nay việc làm của NKT vẫn là vấn đề khó khăn đối với chính quyền địa phương [6].

 

MÃ TÀI LIỆU: 0363

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *