Home / Đại học - Cao đẳng / Lập dự toán phục vụ cho kiểm soát tại công ty dược phẩm, HAY

Lập dự toán phục vụ cho kiểm soát tại công ty dược phẩm, HAY

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng đổi mới và nâng cao trình độ quản lý, trong đó đổi mới và hoàn thiện công tác dự toán giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Bất kỳ một tổ chức nào dù lớn hay nhỏ cũng phải tính toán và dự trù việc sử dụng ngân sách của mình. Tuy nhiên, để dự toán một cách chính xác, phản ánh đúng tiềm năng thực tế của doanh nghiệp là công việc rất khó thực hiện. Hiện nay, một số doanh nghiệp lập dự toán nhưng thường không gắn với mục tiêu, số liệu dự toán thường không phù hợp nên không phát huy vai trò của nó trong việc phục vụ cho kiểm soát và đánh giá hiệu quản hoạt động của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu để hoàn thiện công tác dự toán để dự toán thực sự là công vụ kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là cần thiết và cấp bách trong môi trường ngày càng cạnh tranh và nguồn lực ngày càng khan hiếm. Nhận thức được tầm quan trọng trong việc lập dự toán hoạt động nhằm giúp cung cấp cho Công ty một công cụ quản lý tốt hơn nên tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác lập dự toán phục vụ cho kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây” để làm luận văn tốt nghiệp của mình. Với mong muốn sẽ đóng góp một số ý kiến nhằm cải thiện hoạt động lập dự toán phụ vụ cho kiểm soát và đánh giá hiệu quản của công ty. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu nghiên cứu của đề tài – Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về dự toán tại doanh nghiệp – Hệ thống hóa lý thuyết sử dụng dự toán để kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại doanh nghiệp sản xuất – Tìm hiều thực trạng công tác lập dự toán tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây, nhằm tìm ra những tồn tại, thiếu sót trong công tác lập dự toán, kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động.
12. 2 – Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác lập dự toán để phục vụ kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây. 1.3 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài Để thực hiện và cụ thể hóa được các nội dung trong mục tiêu nghiên cứu. Tác giả đã đạt ra một số câu hỏi nghiên cứu như sau: – Khái niệm, ý nghĩa, nội dung công tác lập dự toán trong doanh nghiệp là gì? – Dự toán được sử dụng như thế nào để kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại doanh nghiệp? – Thực trạng công tác lập dự toán tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây như thế nào? – Thực trạng công tác kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây? – Những nguyên nhân nào ảnh hưởng đến công tác lập dự toán và kiểm soát hoạt động tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây – Có những giải pháp nào giúp hoàn thiện công tác lập dự toán phục vụ kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung và nghiên cứu thực trạng công tác lập dự toán tổng thể tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây: Kỳ lập dự toán, phương pháp lập dự toán, quy trình lập dự toán, các báo cáo dự toán và báo cáo hoạt động. – Phạm vi nghiên cứu: + Về mặt nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác lập dự toán phụ vụ kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây + Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu thực hiện tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây + Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu tình hình lập dự toán , kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây cho năm 2015
13. 3 1.5 Phương pháp nghiên cứu Để nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng chủ yếu là phương pháp định tính. Các dữ liệu sau khi thu thập về sẽ được tác giả xử lý bằng phương pháp phân tích số liệu như: Thống kê, tính toán, phân tích, tổng hợp, so sánh… để đưa ra những con số cụ thể làm nổi bật sự khác biệt giữa các số liệu Cơ sở lý thuyết tác giả sử dụng một số giáo trình tham khảo của các tác giả trong và ngoài nước. Nguồn dữ liệu tác giả sử dụng là các hồ sơ dự toán tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây năm 2015, các báo cáo nội bộ của công ty. Phương pháp thu thập dữ liệu: Nguồn dữ liệu tác giải sử dụng được thu thập từ phòng Kế toán, phòng Kế hoạch. Các dữ liệu thu thập được sẽ được đánh máy và trình bày lại dưới dạng bảng Excel. Trên cơ sở dữ liệu này, tác giải sẽ tính toán và đánh giá công tác lập dự toán, kiểm soát và đánh giá hoạt động tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây. Kết quả phân tích sẽ được đánh giá và nhận xét để từ đó đưa ra kết luận cho từng nội dung. Dựa vào kế quả chương 3, trong chương 4 tác giả sẽ đưa những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lập dự toán và kiểm soát chi phí tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây Phương pháp trình bày kết quả: Các dữ liệu sau khi thu thập về sẽ được tác giả xử lý bằng phương pháp phân tích số liệu như: Thống kê,tính toán, phân tích, tổng hợp, so sánh. Bên cạnh đó, số liệu được tác giả trình bày theo hệ thống bảng biểu đồ thị minh họa để làm nổi bật nội dung phân tích. 1.6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Hiện nay, vấn đề lập dự toán tổng thể được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu những tài liệu có liên quan đã có nhiều đề tài nghiên cứu dự toán tổng thể ở những khía cạnh và áp dụng cho nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau. Có thể kể đến luận văn “Hoàn thiện công tác lập dự toán ngân sách tại Công ty Phân bón Miền Nam ” của tác giả Nguyễn Ý Nguyên Hân (2008), Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh [4], Luận văn đã khái quát hóa cơ sở lý luận về lập dự toán ngân sách trong doanh nghiệp một cách hệ thống và đầy đủ, làm
14. 4 cơ sở và tiền đề cho việc phân tích, đánh giá thực trạng công tác lập dự toán tại Công ty Phân bón Miền Nam. Tác giả cũng đã phản ánh được thực trạng công tác lập dự toán tại Công ty Phân bón Miền Nam; chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế trong công tác lập dự toán ngân sách tại đơn vị. Từ đó luận văn đã đưa ra được các giải pháp hoàn thiện như hoàn thiện quy trình lập dự toán, hoằn thiện mô hình lập dự toán, hoàn thiện các báo cáo dự toán. Tuy nhiên, trong số các giải pháp đưa ra thì một số ít giải pháp tính khả thi còn chưa cao, chưa cân nhắc giữa lợi ích mang lại và chi phí bỏ ra. Hơn nữa bố cục của đề tài còn chưa thật sự phù hợp và logic. Luận văn ‘Hoàn thiện công tác lập dự toán ngân sách tại Viễn thông Quảng Nam” của tác giả Nguyễn Thị Cúc (2011), Đại học Đà Nẵng [2] đã giải quyết được một số vấn đề như hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về lập dự toán trong doanh nghiệp; Khảo sát thực tế về công tác lập dự toán tổng thể tại Viễn thông Quảng Nam, làm cơ sở đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác lập dự toán tại đơn vị. Trong các giải pháp đưa ra, ngoài giải pháp hoàn thiện mô hình lập dự toán, quy trình lập dự toán và các báo cáo dự toán liên quan thì đề tài còn đưa ra được giải pháp hoàn thiện hệ thống đánh giá trách nhiệm cho các cấp quản Ịý trong việc lập dự toán tại đơn vị. Tuy nhiên, luận văn chưa đề cập đến kỳ lập dự toán tại Viễn thông Quảng Nam. Hơn nữa trong các báo cáo dự toán mà tác giả nêu ra trong phần giải pháp thực hiện số liệu còn chung chung, chưa cụ thể theo từng quý, gây khó khăn cho người sử dụng thông tin. Tác giả Vũ Văn Thuật (2014) đã nghiên cứu về “Hoạch định ngân sách lại Công ty cổ phần Thủy điện Đăk Rơ Sa” (Đại học Đà Nẵng) [11]. Luận văn đã góp phần bổ sung lý luận về hoạch định ngân sách và giúp các cấp quản trị tại Công ty nhận thức rõ hơn vai trò của công tác hoạch định ngân sách đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng công tác hoạch định ngân sách tại đơn vị, tác giả đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện mang ý nghĩa thực tiễn cao đối với công tác hoạch định ngân sách tại Công ty cổ phần Thủy điện Đăk Rơ Sa. Tuy nhiên, phần đánh giá thực trạng công tác hoạch định ngân sách tại đơn vị còn chung chung, một số giải pháp còn chưa cụ thể.
15. 5 Nhìn chung, các nghiên cứu nói trên đã cho thấy tầm quan trọng của công tác lập dự toán trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Điểm chung của các tác giả trong đề tài nghiên cứu là việc xác định đúng đối tượng nghiên cứu cho từng đề tài, các phương pháp nghiên cứu được vận dụng một cách phù hợp. Các đề tài đã khái quát hóa cơ sở lý luận về lập dự toán doanh nghiệp một cách hệ thống, khoa học. Ngoài ra, các nghiên cứu còn cho người đọc thấy rõ thực trạng công tác lập dự toán của từng đơn vị và từ đó đề ra giải pháp hoàn thiện như hoàn thiện phương pháp lập dự toán, quy trình lập dự toán, hoàn thiện nội dung lập dự toán..,Tuy nhiên các nghiên cứu đã công bố trên chưa nghiên cứu về công tác lập dự toán tống thề áp dụng cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong ngành sản xuất dược phẩm. Hơn nữa, hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu nào đề cập đến công tác lập dự toán tổng thể tại Công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây. Vì vậy đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu không trùng với các đề tài nghiên cứu trước đây. Ngoài ra để có cơ sở và định hướng cho đề tài, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn tham khảo thêm một số nguồn tài liệu, giáo trình. Có thể kể đến: Giáo trình “Kế toán quản trị” (2012) của tác giả PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân [7]. Tác giả đã trình bày một cách hệ thống những vấn đề chung về kế toán quản trị; Trong đó bao gồm cả những vấn đề liên quan tới dự toán sản xuất kinh doanh. Tác giả nhấn mạnh ý nghĩa công tác lập dự toán trong doanh nghiệp, tiến hành phân loại dự toán, đặc biệt chỉ rõ cơ sở khoa học khi xây dựng dự toán và nêu lên một số trình tự xây dựng dự toán cơ bản. Đối với mỗi trình tự xây dựng dự toán, tác giả cũng phân tích rõ ưu nhược điểm của mỗi loại dự toán để các doanh nghiệp có thể vận dụng một cách phù hợp với đặc điểm của đơn vị mình. Giáo trình “Kế toán quản trị”(2008) của tác giả PGS.TS Trương Bá Thanh, NXB Giáo dục [10]. Ngoài những vấn đề chung về dự toán tổng thể doanh nghiệp thì điểm mới của giáo trình là đã nêu lên một số các nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập dự toán, cụ thể là công tác dự báo tiêu thụ và một số phương pháp để có thể
16. 6 dự báo tiêu thụ. Thêm vào đó, tác giả còn xây dựng trình tự lập dự toán tổng thể trong doanh nghiệp sản xuất một cách khoa học, chi tiết với đầy đủ các loại dự toán. Nhìn chung, ngoài việc nhấn mạnh tầm quan trọng, ý nghĩa của công tác lập dự toán đối với hoạt động kinh doanh, các tài liệu trên còn hệ thống hóa những nội dung cơ bản liên quan tới dự toán tổng thể doanh nghiệp một cách khoa học, cụ thể. Đây là nền tảng lý luận để tác giả có cơ sở, định hướng và vận dụng vào thực tế tại Công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây trong đề tài nghiên cứu của mình. Với nền kinh tế hội nhập, các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Do vậy, để công tác quản lý hoạt động sản xuất được khoa học, hiệu quả và chuẩn bị các nguồn lực kịp thời với mọi tình huống có thể xảy ra trong tương lai các doanh nghiệp đều tiến hành lập kế hoạch sản xuất kinh doanh. Nhờ công tác lập dự toán mà doanh nghiệp có thể phòng tránh tối thiểu các rủi ro có thể xảy ra, biết phải sản xuất sao cho phù hợp với tình hình thực tế, tránh lãng phí nguồn tài nguyên của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu về lập dự toán tổng thể tại Công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây, tác giả sẽ khái quát hóa những nội dung cơ bản về lập dự toán tổng thể trong doanh nghiệp. Qua đó phân tích, đánh giá những vấn đề liên quan đến dự toán tổng thể doanh nghiệp dựa trên nguồn lực hiện có tại Công ty. Đề tài còn đánh giá sự phù hợp của phương pháp lập dự toán và quan trọng hơn là nội dung dự toán tổng thể tại Công ty. Trên cơ sở phân tích các yếu tố liên quan đến dự toán tồng thể kết hợp với việc phân tích, đánh giá thực trạng công tác lập dự toán tổng thể tại Công ty, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập dự toán tại Công ty như: Hoàn thiện kỳ lập dự toán, quy trình lập dự toán, phương pháp lập dự toán và hoàn thiện các báo cáo dự toán. Các giải pháp hoàn thiện mà tác giả nêu ra trong luận văn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với Công ty trong việc nâng cao hiệu quả trong công tác lập dự toán tổng thể doanh nghiệp. 1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu: Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng công tác lập dự toán, kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây, chỉ ra những mặt
17. 7 mạnh, mặt yếu trong công tác lập dự toán phụ vụ kiểm soát và đánh giá hoạt động. Trên cơ sơ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập dự toán và kiểm soát chi phí tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây. 1.8 Kết cấu của đề tài nghiên cứu Luận văn bao gồm 4 chương Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Các vấn đề lý thuyết về lập dự toán phục vụ kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp Chương 3 . Thực trạng lập dự toán phụ vụ kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây Chương 4. Các giải pháp hoàn thiện công tác lập dự toán phục vụ kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây
18. 8 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Trong chương 1, tác giải đã đưa ra những nội dung cơ bản về đề tài nghiên cứu bao gồm: Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu của đề tài nghiên cứu. Trên cơ sơ nội dung của chương 1, tác giải trình bày tổng quan tài liệu về công tác lập dự toán phụ vụ kiểm soát và đánh giá hoạt động.
19. 9 CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ LẬP DỰ TOÁN PHỤC VỤ KIỂM SOÁT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Khái quát chung về dự toán tổng thể doanh nghiệp 2.1.1 Khái niệm dự toán Dự toán là những kế hoạch tài chính chi tiết chỉ rõ cách huy động và sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và được biểu diễn bằng một hệ thống chỉ tiêu dưới dạng số lượng và giá trị [7, tr.163]. Dự toán tổng thể doanh nghiệp là sự tính toán, dự kiến một cách toàn diện mục tiêu kinh tế, tài chính mà doanh nghiệp cần đạt được trong kỳ hoạt động, đồng thời chỉ rõ cách thức huy động, sử dụng vốn và các nguồn khác để thực hiện các mục tiêu của đơn vị. Thông tin trên dự toán là cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động của các bộ phận và từng cá nhân trong bộ phận nhằm phục vụ tốt cho quá trình tố chức và hoạch định trong doanh nghiệp. 2.1.2. Phân loại dự toán Dự toán là một công cụ quản lý rất hữu ích, tuy nhiên để phát huy được tính hữu ích của công cụ quản lý này đòi hỏi nhà quản trị phải có sự am hiểu các loại dự toán để có thể ứng dụng một cách thích họp nhất vào việc quản lý doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Tùy theo nhu cầu cung cấp thông tin của nhà quản lý cũng như mục đích phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, khi xây dựng dự toán các nhà quản trị có thể lựa chọn các loại dự toán khác nhau. Căn cứ vào từng tiêu thức phân loại cụ thể, dự toán được phân loại thành: 2.1.2.1. Phân loại theo thời gian Bao gồm dự toán ngắn hạn và dự toán dài hạn [7]. + Dự toán ngắn hạn: Là dự toán chủ đạo được lập cho kỳ kế hoạch (một năm tài chính) và được chia thành từng quý, từng tháng, tuần… Dự toán ngắn hạn là dự toán nguồn tài chính hoạt động hàng năm liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như tiêu thụ, sản xuất, mua hàng, thu, chi… Dự toán ngắn hạn là cơ sở đưa ra các quyết định tác nghiệp.
20. 10 + Dự toán dài hạn: Là những dự toán liên quan đến nguồn tài chính cho việc mua sắm tài sản cố định, đất đai, nhà xưởng, tài sản dài hạn gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều năm. Dự toán dài hạn đảm bảo khi thời hạn dự toán kết thúc doanh nghiệp sẽ có đủ nguồn vốn sẵn sằng đáp ứng nhu cầu mua sắm tài sản cố định mới. Dự toán dài hạn chính là những kế hoạch dài hạn thể hiện các mục tiêu chiến lược, phát triển của doanh nghiệp. 2.1.2.2. Phân loại theo nội dung kinh tế Theo cách phân loại này dự toán được chia thành [7]: + Dự toán tiêu thụ + Dự toán sản xuất + Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp + Dự toán chi phí nhân công trực tiếp + Dự toán chi phí sản xuất chung + Dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp + Dự toán hàng tồn kho + Dự toán giá vốn hàng bán + Dự toán tiền + Dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh + Dự toán bảng cân đối kế toán 2.1.2.3. Phân loại theo mối quan hệ với mức độ hoạt động Theo cách phân loại này, ta có hai loại dự toán: Dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt [7]. + Dự toán tĩnh là dự toán được lập theo một mức độ hoạt động nhất định. Theo định nghĩa, dự toán tĩnh sẽ không bị điều chỉnh hay thay đổi kể từ khi được lập ra; bất kể có sự thay đổi về doanh thu tiêu thụ, các điều kiện kinh doanh xảy ra trong kỳ dự toán. Nhưng trong thực tế sự biến động của các yếu tố chủ quan và khách quan thường xuyên như: sự lên xuống của giá cả thị trường, sản lượng tiêu thụ biến động, thay đổi các chính sách kinh tế. .Do đó, dự toán tĩnh thường phù hợp
21. 11 với những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng, tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. + Dự toán linh hoạt: là dự toán được lập với nhiều mức độ hoạt động khác nhau trong cùng một phạm vi hoạt động. Dự toán linh hoạt giúp nhà quản trị thấy được sự biến động chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi. Dự toán linh hoạt có ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả kiểm soát chi phí thực tế của doanh nghiệp và phù hợp với những doanh nghiệp sản xuất theo nhu cầu thị trường. 2.1.3. Chức năng và ý nghĩa của lập dự toán tổng thể doanh nghiệp 2.1.3.1 Chức năng lập dự toán tổng thể doanh nghiệp Vai trò của dự toán gắn liền với chức năng của nhà quản trị. Quản trị là một phương thức làm cho những hoạt động tiến tới mục tiêu của tổ chức được hoàn thành với hiệu quả cao. Phương thức này bao gồm các chức năng cơ bản mà nhà quản trị có thể sử dụng trong việc điều hành doanh nghiệp, bao gồm: Chức năng hoạch định: mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được tiến hành theo các chương trình định trước trong kế hoạch dài hạn, kế hoạch hàng năm và kế hoạch tác nghiệp đề hoạt động đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Việc xây dựng kế hoạch của doanh nghiệp là hết sức cần thiết từ nhiều phương diện. Hoạch định là cơ sở định hướng cũng như chỉ đạo mọi hoạt động kinh doanh, phối hợp các chương trình hoạt động của các bộ phận liên quan. Hoạch định là cơ sở để kiểm soát các hoạt động kinh doanh, mọi chênh lệch giữa thực hiện so với kế hoạch đều biểu hiện những nguyên nhân hợp lý và bất hợp lý. Ngoài ra, hoạch định còn là cơ sở để đánh giá kết quá hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp. Chức năng tổ chức – điều hành: Tổ chức là quá trình xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý, đồng thời tạo ra những điều kiện hoạt động cần thiết bảo đảm cho cơ cấu tổ chức được vận hành hiệu quả. Nhà quản trị có thực hiện tốt công việc tổ chức mới tạo nên một môi trường nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức. Bên cạnh đó, điều hành là một trong những chức năng chung của quản trị gắn liền với các hoạt động đôn đốc, động viên,
22. 12 và giám sát công việc hàng ngày, đảm bảo các hoạt động trong tổ chức được thực hiện một cách nhịp nhàng, thúc đẩy các thành viên trong tổ chức hoạt động với một hiệu quả cao nhầm đạt mục tiêu của tổ chức. Chức năng kiểm soát: là đảm bảo mọi hoạt động của tổ chức đi đúng mục tiêu. Chức năng kiểm soát của nhà quản trị đó chính là việc so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch để kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm nhằm điều chỉnh, giúp cho các thành viên trong tổ chức hoàn thành nhiệm vụ. . Chức năng ra quyết định: là việc lựa chọn phương án thích hợp nhất. Có thể nói nội dung cơ bản của hoạt động quản trị là vấn đề ra quyết định. Ra quyết định là khâu mấu chốt trong quá trình quản trị, bởi lẽ từ việc điều hành sản xuất kinh doanh hàng ngày cho đến việc giải quyết các vấn đề mang tính chiến lược đều được tiến hành dựa trên cơ sở những quyết định thích hợp. Hình 2.1. Chức năng của nhà quản trị Xây dựng kế hoạch ngắn hạn, dài hạn (hoạch định) Ra quyết định Đánh giá tình hình hoạt động (Kiểm soát) Tổ chức và điều hành So sánh giữa kết quả thực hiện và kế hoạch (Kiểm soát)
23. 13 Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2009. Kế toán quản trị. Hồ Chí Minh: nhà xuất bản Lao Động [8] Mục đích cơ bản của việc lập dự toán là phục vụ cho chức năng hoạch định và kiểm soát hoạt động kinh doanh của nhà quản trị. Thông qua hai chức năng này mà nhà quản trị đạt được mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Hoạch định : Dự toán buộc nhà quản trị phải dự tính nhừng gì sẽ xảy ra trong tương lai. Dự toán đòi hỏi các nhà quản trị luôn phải suy nghĩ về những gì họ dự tính sẽ xảy ra trong tương lai. Nếu những dự tính sẽ xảy ra có kết quả không tốt, các nhà quan trị phải thấy được những gì cần phải làm đề thay đổi kết quả không mong muốn đó. Kiểm soát : Kiềm soát là quá trình so sánh kết quả thực hiện so với dự toán và đánh giá việc thực hiện dự toán đó. Việc kiểm soát phụ thuộc vào dự toán, nếu không có dự toán thì doanh nghiệp sẽ không có cơ sở để so sánh và đánh giá kết quả của việc thực hiện dự toán. Hình 2.2: Vai trò hoạch định ngân sách Nhận diện mục tiêu của tổ chức Triển khai các chiến lược dài hạn và các kế hoạch ngắn hạn Triển khai dự toán tồng thể Đo lường và đánh giá thành quả Đánh giá lại các mục tiêu, chiến lược và kế hoạch Hoạch định Kiểm soát
24. 14 2.1.3.2 Ý nghĩa của lập dự toán tổng thể doanh nghiệp Ý nghĩa của lập dự toán trong doanh nghiệp, được thể hiện ở những điểm sau: – Xác định mục tiêu phát triển của doanh nghiệp làm căn cứ đánh giá việc thực hiện kế hoạch sau này. Bản dự toán đã cụ thể hóa kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành các con số cụ thể. Việc so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch đã đề ra, nhà quản trị dễ dàng tìm thấy được bộ phận nào trong doanh nghiệp không hoàn thành chỉ tiêu đề ra, từ đó tìm hiểu nguyên nhân vì sao hoạt động của bộ phận không hiệu quả và có biện pháp hữu hiệu để khắc phục. – Kết hợp hoạt động của toàn doanh nghiệp bằng các kế hoạch hoạt động của các bộ phận phối hợp nhịp nhàng đạt mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp. – Dự toán giúp các nhà quản trị phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu, từ đó sẽ có những phân tích, lường trước được những khó khăn trước khi chúng xảy ra để có những biện pháp đúng đẳn khắc phục kịp thời. – Dự toán là cơ sở xây dựng và đánh giá trách nhiệm quản lý của các cấp quản trị doanh nghiệp. Qua kết quả thực hiện so với dự toán sẽ đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận. Từ đó, sẽ có mức thưởng phạt dựa trên kết quả thực hiện dự toán của các bộ phận. Dự toán là bức tranh tổng thể về hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, thông qua dự toán các nhà quản trị sẽ có trách nhiệm hơn trong công tác quản lý của mình. 2.2 Các vấn đề chung về lập dự toán 2.2.1 Đơn vị và thành phần lập dự toán Công tác lập dự toán tại doanh nghiệp được thực hiện bởi nhiều đơn vị, thành phần và được khái quát trong bảng sau:
25. 15 Bảng 2.1: Các dự toán của các trung tâm trách nhiệm Trung tâm trách nhiệm Dự toán được lập tương ứng Trung tâm chi phí – Nhóm trung tâm chi phí thuộc khối sản xuất – Dự toán sản xuât – Dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm – Dự toán chi phí NVLTT – Dự toán chi phí NCTT – Dự toán chi phí sxc (Phụ lục 3)- Nhóm trung tâm chi phí thuộc khôi kinh doanh và khối quản lý – Dự toán chi phí bán hàng – Dự toán chi phí quả n lý DN Trung tâm doanh thu – Dự toán giá bán – Dự toán tiêu thụ Trung tâm lợi nhuận – Dự toán giá vôn hàng bán – Dự toán lợi nhuận Trung tâm đầu tư – Dự toán hiệu quả sử dụng vôn đâu tư – Dự toán kết quả hoạt động kinh doanh – Dự toán cân đối tài sàn – nguồn vốn Nguồn: Sách mô hình báo cáo đảnh giá trách nhiệm quán trị trong công ty niêm yết 2.2.2 Nguyên tắc lập dự toán Công tác lập dự toán phải đưa ra các mục tiêu định lượng cần phải đạt được trong năm, các mục tiêu phải rõ ràng để các bộ phận trong tổ chức cùng thực hiện. Các chỉ tiêu sẽ là một tiêu chí để đánh giá thành tích cuối năm và còn là chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch trong năm. – Dự toán được theo dõi thường xuyên để có những điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế diễn ra trong năm kế hoạch vì dự toán chứa yếu tố không chắc chắn, hơn nữa môi trường sản xuất kinh doanh luôn biến động. – Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện dự toán và theo dõi ngân sách hoạt động để so sánh với thực tế, điều chỉnh cho phù hợp, đảm bảo tính linh hoạt của các báo cáo dự toán.
26. 16 – Các báo cáo dự toán phải được lập một cách có cơ sở, sát thực tế, hợp lý nhưng phải tiết kiệm thời gian và chi phí. 2.2.4 Trình tự lập dự toán 2.2.4.1 Trình tự lập dự toán từ trên xuống Hình 2.1: Trình từ lập dự toán từ trên xuống Theo trình tự này, dự toán được xây dựng tại cấp quản trị cao nhất của doanh nghiệp, sau đó được xét duyệt cho bộ phận cấp trung gian. Và tiếp tục xét duyệt cho bộ phận cấp cơ sở để tiến hành thực hiện dự toán. Dự toán khi lập theo trình tự từ cấp quản trị cao nhất có ưu điểm là tiết kiệm được thời gian và chi phí. Nhưng vì dự toán được xây dựng từ bộ phận quản trị cao nhất nên đòi hỏi nhà quản trị cấp cao phải có kiến thức toàn diện về hoạt động của doanh nghiệp đồng thời phải có tầm nhìn chiến lược về sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Bên cạnh đó, bản dự toán mang tính áp đặt cho người thực hiện, sẽ gây cảm giác không thoải mái khi thực hiện chỉ tiêu. Trình tự này chỉ phù hợp trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, hoặc trong một số ngành nghề đặc biệt, đòi hỏi sự quán lý chặt chẽ, thống nhất, hay trong những doanh nghiệp nhỏ [7, tr. 167]. Quản trị cấp cao nhất Quản trị cấp trung gian Quản trị cấp trung gian QT cấp cơ sở QT cấp cơ sở QT cấp cơ sở QT cấp cơ sở
27. 17 2.2.4.2 Trình tự lập dự toán từ dưới lên Bước 1: Chỉ tiêu của bán dự toán ban đầu được xây dựng từ cấp cơ sở thực hiện, căn cứ vào các điều kiện thực tế phát sinh chi phí, khả năng của cơ sở mình và bảo vệ bản dự toán trước bộ phận quản trị cấp trung gian. Bộ phận quản trị cấp trung gian tổng hợp dự toán từ các bộ phận cơ sở, tiến hành điều chỉnh lại các chỉ tiêu dự toán cho phù hợp với mục tiêu chung của cấp trung gian, rồi tiến hành bảo vệ dự toán trước bộ phận quản trị cấp cao nhất. Hình 1.2 Trình tự lập dự toán từ dưới lên Chú thích: Bước 1 Bước 2 Bước 2: Bộ phận quản trị cấp cao nhất tổng hợp dự toán từ các bộ phận trung gian kết hợp mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp tiến hành điều chỉnh chỉ tiêu của dự toán. Dự toán được hoàn thiện và phân bổ cho bộ phận quản trị trung gian. Bộ phận trung gian lại phân bổ cho bộ phận cơ sở để tiến hành thực hiện dự toán. Bản dự toán xây dựng theo phương pháp này có ưu điểm là phát huy được kinh nghiệm của nhà quản trị các cấp mà vẫn nắm bắt được tình hình thực tế phát sinh tại cơ sở thực hiện nên tính khả thi cao. Tuy nhiên, trình tự lập dự toán này xuất phát từ cấp cơ sở thực hiện nên các chỉ tiêu thường được xây dựng dưới mức khả năng có thể thực hiện của các bộ phận Quản trị cấp cao nhất Quản trị cấp trung gian Quản trị cấp trung gian QT cấp cơ sở QT cấp cơ sở QT cấp cơ sở QT cấp cơ sở
28. 18 cơ sở. Các nhà quản trị cấp cao nắm bắt được tâm lý này để điều chỉnh các chỉ tiêu cho phù hợp và tận dụng tối đa năng lực của doanh nghiệp [7, tr. 169-170]. 2.2.5. Quy trình lập dự toán tồng thể trong doanh nghiệp Dự toán có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậv để có một dự toán tổng thể tối ưu là điều hết sức cần thiết, mà đòi hỏi bộ phận dự toán cần phải hoạch định cho mình một quy trình lập dự toán phù hợp nhất. Do mỗi doanh nghiệp có một đặc điểm cũng như phong cách quản lý riêng nên quy trình lập dự toán tổng thể cùng sẽ khác nhau. Dưới đây là một quy trình quản lý dự toán tiêu biểu của tác giả Stephen Brookson [9, tr.6]: Chuẩn bị Soạn thảo Theo dõi Hình 2.4: Quy trình lập dự toán tổng thể doanh nghiệp Xác định mục tiêu chung của Thu thập thông tin chuẩn bị dự thảo ngân sách lần đầu tiên Phân tích sự khác nhau giữa kết quả thực tế Kiểm tra các con số dự toán bằng cách chất vấn và phân tích Lập dự toán tiền mặt để theo dõi dòng tiền Theo dõi những khác biệt, phân tích các sai số, kiểm tra những Xem lại quy trình hoạch định ngân sách Dự báo lại và điều chỉnh, xem xét sử dụng những dạng Chuẩn bị ngân sách Đánh giá hệ thống
29. 19 + Giai đoạn chuẩn bị: là bước đầu và cũng là quan trọng nhất trong toàn bộ quy trình dự toán. Trong giai đoạn này, cần phải làm rõ các mục tiêu cần đạt được của doanh nghiệp vì tất cả các báo cáo dự toán đều được xây dựng dựa vào chiến lược và mục tiêu phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Sau khi xác định rõ mục tiêu, doanh nghiệp sẽ xây dựng một mô hình dự toán ngân sách cho tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp. + Giai đoạn soạn thảo: trong giai đoạn này, cá nhân có liên quan đến việc lập dự toán phải tập hợp toàn bộ thông tin về các nguồn lực có sẵn trong doanh nghiệp, các yếu tố bên trong, bên ngoài có tác động và ảnh hưởng đến công tác dự toán ngân sách của doanh nghiệp, đồng thời ước tính giá trị thu, chi. Trên cơ sở đó, soạn thảo các báo cáo dự toán có liên quan như: dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí, dự toán tiền, dự toán bảng cân đối kế toán … + Giai đoạn theo dõi: dự toán ngân sách là một công việc quan trọng được thực hiện từ năm này qua năm khác, từ tháng này sang tháng khác. Vì vậy, để dự toán ngày càng hoàn thiện hơn thì ở mỗi kỳ dự toán cần phải thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện dự toán để từ đó xem xét lại các thông tin, cơ sở lập dự toán ngân sách và có những điều chỉnh cần thiết để rút kinh nghiệm cho lần lập dự toán ngân sách tiếp theo. 2.2.6 Xây dựng chi phí tiêu chuẩn 2.2.6.1 Khái niệm và phân loại chi phí tiêu chuẩn Chi phí tiêu chuẩn hay còn gọi là định mức chi phí ( Standard cost) là sự ước lượng chi phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm. Chi phí tiêu chuẩn được thiết lập cho từng khoản mục chi phí sản xuất dựa trên lượng tiêu chuẩn và giá tiêu chuẩn của mỗi nhân tố đầu vào. Dựa vào chi phí tiêu chuẩn, nhân viên kế toán quản trị sẽ xác định dự toán chi phí sản xuất ( dự trên mức hoạt động dự kiến) và sử dụng nó làm “ chuẩn mực” để đối chiếu với chi phí thực tế Định mức chi phí được chi làm hai loại là định mức lý tưởng ( perfeciton standards) và định mức thực tế ( practical standards) – Định mức lý tưởng: là định mức chỉ có thể đạt được trong những điều kiện
30. 20 sản xuất lý tưởng: người lao động làm việc với năng suất cao nhất, nguyên liệu không bị hỏng, không có sự hư hỏng của máy móc hoặc sự gián đoạn sản xuất…Trong thực tế, định mức lý tưởng ít khi được áp dụng vì nó không có tính thực tiễn – Định mức thực tế: là loại định mức được xây dựng một cách chặt chẽ, có có sở khoa học, dựa trên điều kiện sản xuất thực tế: cho phép có thời gian hợp lý máy chết và thời gian nghỉ ngơi của người lao động và do đó định mức sẽ đạt được thông qua nhận thức và sự cố gắng cao của người lao động trong công việc. Do vậy, định mức thực tế nếu xây dựng đúng đắn và hợp lý sẽ có tác dụng động viên, khuyến khích người lao động làm việc có năng suất. Biến động giữa số liệu thực tế với định mức ( thực tế) sẽ có nhiều ý nghĩa đối với nhà quản lý trong việc kiểm soát 2.2.6.2 Phương pháp xây dựng định mức Có hai phương pháp chủ yếu để xây dựng định mức chi phí: Phương pháp thông kê kinh nghiệm và phương pháp phân tích kinh tế kỹ thuật – Phương pháp thông kê kinh nghiệm: Phương pháp này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có quy trình sản xuất ổn định. Để xây dựng các định mức chi phí, ngừoi ta dựa vào số liệu trong qua khứ, tiến hành phân tích và từ đó xây dựng định mức về lượng ( lượng nguyên liệu tiêu hao, thời gian làm việc, v.v..). Đồng thời, căn cứ và tình hình thị trường, các quyết định tồn kho để xây dựng định mức về giá. – Phương pháp phân tích kinh tế kỹ thuật: Để thực hiện phương pháp này, các kế toán viên phải phối hợp với các nhân viên kỹ thuật để phân tích công suất thiết kế của mày móc thiết bị, phân tích qui trình công nghệ, phân tích hành vi sản xuất v.v.. để xây dựng các định mức chi phí Trong thực tiên, các nhà quản lý thường sử dụng phối hợp hai phương pháp này đề xây dựng các định mức chi phí. Phương pháp thông kê kinh nghiệm được sử dụng ở những phần/giai đoạn của qui trình sản xuất ổn định ( không có sự thay đổi), và phương pháp phân tích công việc được sử dụng trong phân/giai đoạn của quy
31. 21 trình sản xuất có sự thay đổi về công nghệ hoặc phương pháp sản xuất. 2.2.6.3 Xây dựng định mức các chi phí sản xuất + Định mức chi phí nguyên liệu trực tiếp Định mức chi phí nguyên liệu trực tiếp được xây dựng dựa và định mức lượng nguyên vật liệu tiêu hao và định mức giá của nguyên liệu Định mức lượng nguyên liệu trực tiếp: Phản ánh lượng nguyên liệu tiêu hao ước tính để sản xuất một sản phẩm, bao gồm luôn lượng hao hụt cho phép trong quá trình sản xuất Định mức về giá nguyên liệu trực tiếp: Phản ánh giá phí cuối cùng của một đơn vị nguyên liệu trực tiếp, bao gồm giá mua cộng với chi phí thu mua trừ đi chiết khấu mua hàng được hưởng + Định mức lao động trực tiếp Định mức chi phí lao động trực tiếp được biểu thị thông qua định mức giá của một giờ lao động trực tiếp và định mức lượng thời gian lao động trực tiếp để sản xuất một đơn vị sản phẩm – Định mức về thời gian lao động: lượng thời gian tiêu chuẩn cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm. Một điều cần lưu ý là định mức thời gian lao động phải bao gồm cả thời gian để nghỉ ngơi, giải quyết các nhu cầu cá nhân, lau chùi máy và thời gian chết máy. – Định mức về giá lao động trực tiếp: chi phí tiền lương ước tính cho một giời lao động trực tiếp, bao gồm tiền lương, tiền công của người lao động và các khoản phụ cấp và những chi phí khác liên quan đế lao động + Định mức chi phí sản xuất chung Định mức chi phí sản xuất chung được xây dựng theo chi phí sản xuất chung biên đổi và cố định, nhằm phục vụ cho việc phân tích biến động chi phí sản xuất chung. Định mức chi phí sản xuất chung được xây dựng dựa trên đơn giá phân bổ sản xuất chung và tiêu thức được chọn để phân bổ chi phí sản xuất. – Định mức chi phí sản xuất chung biến đổi: Định mức lượng: Số giời máy cho cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm
32. 22 Định mức giá: Đơn gia phân bổ chi phí sản xuất chung biến đổi ( phản ánh đơn giá sản xuất chung biến đổi tính cho một giờ máy) – Định mức chi phí sản xuất chung cố định Định mức chi phí sản xuất chung cố định được xây dựng tương tự như định mức chi phí sản xuất chung biên đổi + Tổng hợp các định mức chi phí sản xuất Sau khi xây dựng định mức cho từng yếu tố chi phí sản xuất, ta lập bảng tổng hợp các định mức chi phí, gọi là thẻ tính giá thành định mức 2.3. Nội dung dự toán tổng thể doanh nghiệp Do đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là đa dạng nên trình tự lập dự toán tổng thể ở các doanh nghiệp cũng khác nhau, không theo một trình tự cụ thể nào. Tuy nhiên, có thể khái quát trình tự chung cho các doanh nghiệp như sau [10, tr. 166]:
33. 23 Hình 2.3: Trình tự xây dựng dự toán tổng thề trong doanh nghiệp sản xuất (Nguồn: PGS.TS. Trương Bá Thanh (2008), Giáo trình Kế toán quản trị,NXB Giáo dục) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dư toán Dự toán hoạt động Dự toán tài chính Dự toán tiêu thụ Dự toán dự trữ thành phẩm Dự toán sản xuất Dự toán nguyên vật liệu Dự toán nhân công trực tiếp Dự toán giá thành sản xuất Dự toán chi phí bán hàng Dự toán vốn Dự toán chi phí sản xuất chung Dự toán giá vốn bán hàng Dự toán chi phí QLDN Báo cáo kết quả KD dự toán Dự toán chi phí tài chính dự toán vốn bằng tiền Bảng cân đối kế toán dự toán
34. 24 Mối quan hệ giữa các loại dự toán trong doanh nghiệp sản xuất đã được thể hiện rõ thông qua sơ đồ hình 1.5. Các bước xây đựng dự toán tổng thể được thể hiện cụ thể sau đây: 2.3.1 Dự toán tiêu thụ Dự toán tiêu thụ bao gồm những thông tin về chủng loại, số lượng hàng bán, giá bán và cơ cẩu sản phẩm tiêu thụ. Những yếu tố thường được xem xét khi dự báo tiêu thụ đó là khối lượng tiêu thụ của kỳ trước, các đơn đặt hàng chưa thực hiện, chính sách giá trong tương lai cùng với các chiến lược tiếp thị để mở rộng thị trường, mức tăng trưởng của nền kinh tế, vấn đề công ăn việc làm, thu nhập bình quân đầu người, sức mua của người dân… Dự toán = Dự toán sản X Đơn giá bán doanh thu phẩm tiêu thụ theo dự toán 2.3.2 Dự toán sản xuất Sau khi xác định khối lượng tiêu thụ, các yêu cầu sản xuất cho kỳ kế hoạch tới có thể được quyết định và tập họp thành Dự toán sản xuất. Việc xây dựng Dự toán sản xuất nhằm xác định số lượng, chủng loạỉ sản phẩm sản xuất trong kỳ đến. Khối lượng sản phẩm sản xuất không chỉ thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ mà còn phải đáp ứng nhu cầu tồn kho cuối kỳ. Như vậy, số lượng sản phẩm sản xuất yêu cầu trong kỳ là [10]: Số lượng SP Nhu cầu sản số sản phẩm số sản phẩm cần sản xuất = phẩm tồn kho + tiêu thụ trong – tồn đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ kỳ theo dự toán Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đảm nhận tất cả nhu cầu, điều đó còn tùy thuộc vào khả năng sản xuất trên cơ sở năng lực hiện tại của chúng. Do vậy: Khối lượng sản xuất dự toán = Min {Khối lượng sản xuất yêu cầu; Khối lượng sản xuất theo khả năng)
35. 25 2.3.3 Dự toán chi phí sản xuất 2.3.3.1 Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Dự toán chi phí NVL trực tiếp phản ánh tất cả chi phí NVL trực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên Dự toán khối lượng sản phẩm sản xuất. Để lập Dự toán chi phí NVL trực tiếp cần xác đinh các chỉ tiêu như định mức tiêu hao NVL để sản xuất một sản phẩm, đơn giá xuất NVL. Với sự thay đổi thường xuyên của giá cả đầu vào, để phù hợp với thực tế và làm cơ sở cho việc kiểm tra, kiểm soát khi tính toán đơn giá này cần phải biết doanh nghiệp đang sử dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho nào: phương pháp FIFO, giá đích danh hay đơn giá bình quân. Và cuối cùng là phải biết được mức độ dự trữ NVL trực tiếp vào cuốỉ ký dự toán được tính toán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho. Dự toán lượng = Định mức tiêu X số lượng sản phẩm NVL sử dụng hao NVL sản xuất theo dự toán Ngân sách chi phí NVL trực tiếp xuất dùng cho sản xuất sẽ là: Dự toán chi phí = Dự toán lượng X Đơn giá NVL trực tiếp NVL sử dụng xuất NVL Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng nhiều loại vật liệu có đơn giá khác nhau để sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau thì công thức xác định chi phí NVL như sau [7]: CPVL = ∑ ∑ QiMijGj Trong đó: Mij: Mức hao phí vật liệu j để sản xuất một sản phẩm i Gj: Đơn giá vật liệu loại j (j = 1, m) Qi: Số lượng sản phẩm i dự toán sản xuất (i – 1, n) n : Số loại sản phẩm m: Số loại vật liệu
36. 26 2.3.3.2 Dự toán cung cấp NVL Dự toán cung cấp NVL được lập cho từng loại NVL cần thiết để thực hiện quá trình sản xuất trên cơ sở số lượng NVL dự toán cần thiết sử dụng và chính sách dự trữ tồn kho của doanh nghiệp theo công thức sau: Số lượng = Số lượng nguyên + số lượng nguyên – Số lượng nguyên liệu liệu sử dụng liệu tồn cuối kỳ nguyên liệu tồn mua vào theo dự toán theo dự toán thực tế đầu kỳ Như vậy, số tiền cần thiết phải chuẩn bị để mua NVL được tính toán dựa vào việc dự báo đơn giá mua NVL và dự toán mua NVL trực tiếp được xây dựng. Đơn giá NVL là giá thanh toán với nhà cung cấp. Dự toán tiền mua = Dự toán lượng x Đơn giá nguyên vật NVL trực tiếp NVL mua vào liệu Dự toán mua NVL còn tính đến thời điểm đo thị trường luôn biến động, giá NVL liên tục thay đổi. Mặt khác, tùy theo từng thời điểm mức thanh toán tiền mua NVL còn tùy thuộc vào chính sách bán hàng của các nhà cung cấp [7]. 2.3.3.3 Dự toán chi phí nhân công trực tiếp Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng từ Dự toán khối lượng sản xuất. Dự toán này cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô của lực lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán. Chi phí nhân công trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản xuất. Trong một số ít các trường hợp chi phí nhân công trực tiếp không thay đổi theo mức độ hoạt động, đó là trường hợp các doanh nghiệp sử dụng nhân công có trình độ tay nghề cao, không thể trả công theo sản phẩm. Để lập dự toán chi phí này, doanh nghiệp phải tính toán dựa trên số lượng nhân công, quỹ lương, cách phân phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp, Đối với biến phí nhân công trực tiếp, để lập dự toán doanh nghiệp cần xây dựng chỉ tiêu định mức lao động để sản xuất sản phẩm và tiền công cho từng giờ
37. 27 công lao động hoặc từng sản phẩm nếu doanh nghiệp trả lương theo sản phẩm. Và chi phí nhân công trực tiếp cũng được xác định [7]: Công thức: CPNCTT = ∑ ∑ QiMijGj Hoặc CPNCTT = ∑ QiLi Với: Mij: Mức hao phí lao động trực tiếp loại j để sản xuất một sản phẩm i Gj: Đơn giá lương của lao động loại j Li: Đơn giá tính lương cho mỗi sản phẩm Qi: Số lượng sản phẩm i dự toán sản xuất 2.3.3.4 Dự toán chi phỉ sản xuất chung Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất, phát sinh trong phân xưởng. Chi phí SXC bao gồm cả yếu tố chi phí biến đổi và chi phí cố định, nên Dự toán chi phí sản xuất chung phải tính đến cách ứng xử chi phí để xây dựng mức phí dự toán hợp lý trong kỳ. Chi phí SXC được xác định: Dự toán chi phí = Dự toán định phí x Dự toán biến phí sản xuất chung sản xuất chung sản xuất chung Biến phí SXC có thế được xây dựng theo từng yếu tố chi phí cho một đơn vị hoạt động (Chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp…) tuy nhiên thường cách làm này khá phức tạp, tốn nhiều thời gian. Do vậy khi lập dự toán chi phí này, người ta thường xác lập biến phí SXC cho từng đơn vị hoạt động. Dự toán biến phí = Dự toán biến phí đơn x Sản lượng sản xuất sản xuất chung vị sản xuất chung theo dự toán Ngân sách biến phí SXC cũng có thể được lập theo tỷ lệ trên biến phí trực tiếp, khí đó biến phí SXC sẽ được xác định. Dự toán biến phí = Dự toán biến phí x Tỷ lệ biến phí sản xuất chung trực tiếp theo dự kiến
38. 28 Ngân sách định phí SXC cần thiết phải phân biệt định phí bất buộc và định phí tùy ý. Đối với định phí bắt buộc, trên cơ sở định phí chung cả năm chia đều cho 4 quý nếu lập ngân sách theo quý, hoặc chia đều cho 12 tháng nếu lập ngân sách theo tháng. Còn đối với định phí tùy ý thì phải căn cứ vào kế hoạch của nhà quản trị trong kỳ lập ngân sách [10]. Dự toán định phí = Định phí sản xuất x Tỷ lệ % tăng (giảm) định phí sản xuất chung chung thực tế kỳ trước sản xuất chung theo dự kiến 2.3.4 Dự toán giá vốn hàng bán Giá vốn hàng bán thực chất là tổng giá thành của khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ tính theo phương pháp toàn bộ. Như vậy, trên cơ sở số lượng sản phẩm sản xuất theo dự toán, giá thành dự toán để sản xuất sản phẩm, số lượng sản phẩm dự trữ dự toán vào cuối kỳ, Dự toán giá vốn hàng bán được xây dựng như sau: Dự toán giá = Giá thành sản phẩm + Giá thành sản – Giá thành sản vốn hàng sản xuất trong kỳ phẩm tồn kho phẩm tồn đầu xuất bán theo dự toán cuối kỳ dự toán kỳ thực tế Nếu đơn vị không có tồn kho sản phẩm hoặc chi phí đơn vị tồn kho tương tự nhau thì giá vốn hàng bán có thể tính bằng tích của sản lượng tiêu thụ nhân với giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm. Khi ỉập Dự toán giá vốn hàng bán cũng phải chú ý các phương pháp đánh giá hàng tồn kho mà doanh nghiệp sử dụng để tính toán [7], 2.3.5.Dự toán chi phí bán hàng Dự toán chi phí bán hàng phản ánh các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản phầm dự tính của kỳ sau. Ngân sách này nhằm mục đích tính trước và tập hợp các phương tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng. Khi xây dựng ngân sách cho các chi phí này cần tính đến nội dung kinh tế của chi phí cũng như vếu tố biến đồi và yếu tố cố định trong thành phần chi phí [7]. Dự toán chi = Dự toán định phí + Dự toán biến phí phí bán hàng bán hàng bán hàng
39. 29 2.4.5.1. Dự toán định phí bán hàng Định phí bán hàng thường ít biến đối và có thể dự báo một cách dễ dàng dựa vào chức năng kinh doanh của doanh nghiệp. Các chi phí này cũng có thể thay đổi trong trường họp phát triển thêm mạng phân phối mới, thêm các dịch vụ mới sau bán hàng, dịch vụ nghiên cứu phát triển thị trường… Dự báo các yếu tố này cần phân tích đầy đủ các dữ liệu quá khứ của doanh nghiệp. Thông thường các mô hlnh hồi quy cho phép ta tách biệt các thành phần định phí và biến phí bán hàng của doanh nghiệp, đồng thời làm cơ sở tính toán tỷ lệ thay đổi dự kiến. Dự toán định = Định phí bán hàng x Tỷ lệ % tăng phí bán hàng thực tế kỳ trước (giảm) theo dự kiến 2.3.5.2. Dự toán biến phí bán hàng Biến phí bán hàng của doanh nghiệp có thể là biến phí trực tiếp như: hoa hồng, lương nhân viên bán hàng…biến phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến từng bộ phận bán hàng như chi phí xăng dầu, hỗ trợ bán hàng…và thường được lập trên cơ sở số lượng hàng bán hoặc xác định một tỷ lệ biến phí bán hàng theo thống kê kinh nghiệm nhiều kỳ. Dự kiến biến = Dự toán biến phí x Sản lượng tiêu thụ phí bán hàng đơn vị bán hàng theo dự toán Hoặc: Dự kiến biến = Dự toán biến phí x Tỷ lệ biến phí theo phí bán hàng trực tiếp dự kiến 2.3.6 Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp Dự toán chi phí QLDN thường phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Chi phí này liên quan đến toàn bộ doanh nghiệp, chứ không liên quan đến từng bộ phận, đơn vị hoạt động nào. Tương tự như Dự toán bán hàng, việc lập Dự toán biến phí quản lý doanh nghiệp thường dựa vào biến phí quản lý đơn vị nhân với sản lượng tiêu thụ dự kiến.
40. 30 Dự kiến biến = Dự toán biến phí x Sản lượng tiêu thụ phí QLDN đơn vị QLDN theo dự toán Dự toán biến phí QLDN cũng có thể sử dụng phương pháp thống kê kinh nghiệm, trên cơ sở tỷ lệ biến phí QLDN trên biến phí trực tiếp trong và ngoài khâu sản xuất ở các kỳ kế toán trước để xác định tỷ lệ biến phí bình quân giữa các kỳ. Công thức để xác định biến phí này như sau: Dự kiến biến = Dự toán biến phí x tỷ lệ biến phí phí QLDN trực tiếp QLDN Số liệu từ dự toán này còn là cơ sở để lập Dự toán bằng tiền và Báo cáo kết quả kinh doanh dự toán của doanh nghiệp. 2.3.7 Dự toán chi phí tài chính Thu nhập và chi phí tài chính liên quan đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Thu nhập và chi phí tài chính bao gồm rất nhiều nội dung. Theo chế độ kế toán hiện nay, chi phỉ và thu nhập tài chính phải được tính toán đầy đủ trong kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để lập Dự toán chi phí tài chính, chúng ta cần quan tâm đến chi phí lãi vay, đây là bộ phận lớn nhất trong chi phí tài chính mà doanh nghiệp phải trả. Cơ sở để lập dự toán chi phí lãi vay là số tiền cần vay dài hạn và ngắn hạn trong mỗi kỳ lập dự toán cũng như lãi suất vay phải trả cho từng khoản vay. 2.3.8 Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh Trên cơ sở dự toán bộ phận đã lập, bộ phận kế toán quản trị lập các báo cáo kết quả kinh doanh dự toán, số liệu dự toán trên báo cáo tài chính này thể hiện kỳ vọng của các nhà quản lý tại doanh nghiệp và có thể được xem như một công cụ quản, lý của doanh nghiệp cho phép ra các quyết định về quản trị, nó cũng lả cơ sở để đánh giá tình hình thực hiện dự toán đã đề ra. Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh được lập căn cứ vào các Dự toán tiêu thụ, Dự toán giá vốn và các dự toán chi phí ngoài sản xuất đã lập. Dự toán này có thể được lập theo phương pháp tính giá toàn bộ hoặc theo phương pháp tính giá trực tiếp.
41. 31 2.3.9 Dự toán tiền Dự toán tiền được tính bao gồm việc tính toán các luồng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng thu vào và chi ra liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp trong các thời kỳ. Dự toán này có thể được lập hàng năm, hằng quý và nhiều khi cần thiết phải lập hàng tháng, tuần, ngày. Khi lập dự toán tiền, doanh nghiệp cần chú ý các điểm sau [7, tr.186]: + Dự toán tiền được lập từ các khoản thu nhập và chi phí của Dự toán hoạt động, Dự toán vốn và Dự toán chi phí tài chính, + Phải dự đoán khoảng thời gian giữa doanh thu được ghi nhận và thời điểm thực tế thu tiền bán hàng thực tế. + Phải dự đoán khoảng thời gian giữa chi phí đã ghi nhận và thời điểm thực tế trả tiền cho các khoản chi phí. + Phải loại trù các khoản chi không bằng tiền mặt, Ví dụ: chi phí khấu hao TSCĐ hoặc chi phí dự phòng nợ khó đòi phải loại bỏ khi lập Dự toán vốn bằng tiền. + Phải xây dựng số dư tồn quỹ tiền tối thiểu tại đơn vị. Tồn quỹ tiền tối thiểu và các kết quả dự báo về luồng tiền thu chi là cơ sở để doanh nghiệp sử dụng hợp lý tiền của mình. Trong thực tế, khi lập ngân sách tiền, doanh nghiệp cần chú ý đến các luồng tiền sau; + Các khoản thu, chi về tiền gửi, tiền vay ngân hàng. + Các khoản chi về cổ tức, thu về chứng khoán. 2.3.10 Bảng cân đối kế toán dự toán Trên cơ sở các dự toán về vốn bằng tiền, về tồn kho…mà các bộ phận đã lập, phòng tài chính kế toán lập bảng cân đối kế toán dự toán. Dự toán này được ỉập căn cứ vào bảng cân đối kế toán kỳ trước và tình hình nhân tố của các chỉ tiêu được dự tính trong kỳ. Kết cấu của bảng cân đối kế toán dự toán có tính kết cấu trên cơ sở của kế toán tài chính.
42. 32 2.4 Xác định các trung tâm trách nhiệm Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong một tổ chức mà người quán lý của bộ phận đó có quyền điều hành và có trách nhiệm đối với chi phí, thu nhập phát sinh, lợi nhuận hoạt động hoặc số vốn đầu tư sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Trong một tổ chức có thể xác lập 4 trung tâm trách nhiệm cơ bản sau: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư. 2.4.1 Trung tâm chi phí: (Cost Center) Trung tâm chi phí là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với chi phí phát sinh trong bộ phận đó. Trung tâm chi phí thường thực hiện các nhiệm vụ là lập dự toán chi phí; phân loại chi phí thực tế phát sinh; so sánh mức độ hoàn thành chi phí với kế hoạch hay dự toán. Trung tâm chi phí thường được chia làm hai dạng là trung tâm chi phí định mức (Standard Cost Center) và trung tâm chi phí không định mức được (Discretionary Expense Center). * Trung tâm chi phí định mức (Standard Cost Center): còn gọi là trung tâm chi phí tiêu chuẩn. Nhà quản trị trung tâm chi phí định mức có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh, để vẫn đảm bảo kế hoạch sản xuất cũng như đảm bảo kế hoạch chi phí cho từng đơn vị sản phẩm, dịch vụ và tính cho toàn bộ. Trung tâm chi phí định mức được nhận biết trên cơ sở chúng ta có thể xác định, đo lường một cách chắn chắn đầu ra, và có thể xác định được định mức các đầu vào cần thiết để sản xuất ra một đơn vị đầu ra đó. Đối với trung tâm này thì hiệu suất được đo lường bởi mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra, còn tính hiệu quả được đo lường bằng mức độ trung tâm đạt được sản lượng mong muốn tại những mức độ về chất lượng và thời gian đã định. Các trung tâm chi phí thường gắn với cấp quản trị cơ sở và có thế là các nhà máy sản xuất, các phân xưởng sản xuất, các tổ sản xuất, các trạm thu mua chế biến,… * Trung tâm chi phí không định mức được (Discretionary Expense Center): hay còn gọi là trung tâm chi phí dự toán. Đây là trung tâm trách nhiệm mà tại đó nhà quản trị của trung tâm này có quyền điều khiển, kiểm soát và chịu trách nhiệm đối với các chi phí phát sinh tại trung tâm mà không thể xác định được
43. 33 mối quan hệ giữa đầu vào (các nguồn lực sử dụng) và đầu ra (kết quả đạt được), hay không thể tính được đầu ra một cách rõ ràng. Các trung tâm chi phí không định mức được có thể là phòng kế toán, phòng quản trị nhân sự, khối hành chính, bộ phận nghiên cứu phát triển, hoạt động tiếp thị, …Công ty thường kiểm soát các bộ phận này bằng cách so sánh chi phí giữa ngân sách đã dự toán và thực tế thực hiện đồng thời giám sát nguồn lực cung ứng như chi phí vật dụng, thiết bị, con người,…Tuy nhiên, cách so sánh này chỉ cho kết quả tương đối nên cần phải kết hợp một số chỉ tiêu phi tài chính về mức độ và chất lượng của các dịch vụ mà các trung tâm này cung cấp. 2.4.2 Trung tâm doanh thu (Revenue Center): Trung tâm doanh thu là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với doanh thu phát sinh trong bộ phận đó. Trung tâm này thường gắn liền với bậc quản trị cấp trung hoặc cấp cơ sở như bộ phận kinh doanh, bộ phận bán hàng của một công ty, cửa hàng,…Trung tâm doanh thu chỉ chịu trách nhiệm đối với chi phí tiêu thụ, không có trách nhiệm đối với chi phí sản phẩm, lợi nhuận và vốn đầu tư bỏ ra.Thành quả của trung tâm doanh thu thường được đánh giá bằng cách so sánh doanh thu có thể kiểm soát giữa thực tế và doanh thu dự toán đồng thời phân tích chênh lệch phát sinh. 2.4.3 Trung tâm lợi nhuận: Trung tâm lợi nhuận là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản lý của bộ phận có quyền quyết định, kiểm soát đồng thời chịu trách nhiệm về biến động của lợi nhuận hoạt động của bộ phận đó. Nhà quản lý có thể ra quyết định về giá bán, lựa chọn mạng lưới tiêu thụ, thiết kế cấu trúc sản phẩm, chất lượng sản phẩm cũng như phải quyết định các nguồn lực sản xuất được phân bổ như thế nào giữa các sản phẩm để đạt được sự cân bằng trong việc phối hợp giữa các yếu tố giá cả, sản lượng, chất lượng và chi phí. Loại trung tâm trách nhiệm này thường được gắn ở bậc quản lý cấp trung, đó là giám đốc điều hành trong công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng công ty như các công ty phụ thuộc, các chi nhánh,…
44. 34 Trung tâm lợi nhuận được đánh giá bằng việc so sánh giữa lợi nhuận thực tế đạt được theo số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh thực tế và lợi nhuận dự toán dựa trên dữ liệu báo cáo kết quả kinh doanh dự toán. 2.4.4 Trung tâm đầu tư: Trung tâm đầu tư là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản lý chịu trách nhiệm cả về doanh thu, chi phí, lợi nhuận và cả việc xác định lượng vốn hoạt động để tiến hành quá trình đó. Nhà quán trị trung tâm đầu tư có trách nhiệm lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh kể cả hoạt động đầu tư trong DN. Trong quản lý điều hành, tác dụng của trung tâm đầu tư là đảm bảo việc đầu tư vào các lĩnh vực. ngành nghề kinh doanh của đơn vị có hiệu quả. Bằng cách tạo mối liên hệ giữa lợi nhuận và tài sản sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó, chúng ta có thể đánh giá lợi nhuận tạo ra có tương xứng với đồng vốn đã bỏ ra hay không. Thông qua đó cùng hướng sự chú ý của nhà quản lý đến mức độ sử dụng hiệu quả vốn lưu động. Trung tâm đầu tư đại diện cho cấp độ quản lý cao nhất như Hội đồng quản trị công ty, các công ty con độc lập,…Thành quả của trung tâm đầu tư thường được đánh giá bằng tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) và lợi nhuận còn lại (RI). 2.5 Các chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm trách nhiệm. Hoạt động của trung tâm trách nhiệm thường được xem xét trên hai mặt là hiệu quả và kết quả. Đánh giá trách nhiệm quản trị của các cấp quản lý các trung tâm trách nhiệm bằng cách lấy kết quả thực hiện của các trung tâm trách nhiệm, so sánh đối chiếu với số liệu dự toán ban đầu trên cả hai mặt hiệu quả và kết quả. Do đầu ra và đầu vào của mỗi trung tâm trách nhiệm khác nhau, vì vậy các chỉ tiêu đo lường cho từng loại trung tâm cũng khác nhau. * Chỉ tiêu kết quả: thể hiện kết quả thực tế đạt được so với nhiệm vụ đặt ra của các trung tâm trách nhiệm, là số tuyệt đối. Ví dụ: doanh thu thực tế so với doanh thu dự toán, sản lượng sản xuất thực tế so với sản lượng sản xuất kế hoạch. * Chỉ tiêu hiệu quả: thể hiện tỷ lệ giữa nguồn lực đầu vào với kết quả đầu ra của một trung tâm trách nhiệm. Nó cho thấy thực tế nguồn lực sử dụng để tạo ra
45. 35 được kết quả đó. Ví dụ: tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn (ROI), mức tiêu hao NVL trên mỗi sản phấm,… 2.5.1 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm chi phí: * Trung tâm chi phí định mức – trung tâm chi phí tiêu chuẩn: đặc trưng của trung tâm này là sản lượng “đầu ra” có thể đo lường được và phí tổn “đầu vào” sản xuất một sản phẩm đòi hỏi phải được định rõ. Về kết quả: được đánh giá thông qua mức chênh lệch giữa số lượng thực tế sản xuất được với số lượng kế hoạch đã đề ra. Chỉ tiêu đánh giá là: số lượng sản phẩm, dịch vụ tạo ra. Về hiệu quả: được đánh giá thông qua chỉ tiêu hiệu suất sử dụng nguồn lực trong sản xuất (nguồn lực ở đây gồm chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC) và giá thành sản phẩm. Chỉ tiêu đánh giá là: – Mức độ biến động chi phí = Chi phí thực tế – Chi phí định mức – Định mức tiêu hao NVL,… * Trung tâm chi phí không định mức được – trung tâm chi phí dự toán: các yếu tố chi phí đầu ra tại trung tâm này không thể lượng hóa bằng tiền một cách trực tiếp (chẳng hạn đầu ra của phòng kế toán là các báo cáo), đồng thời mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của trung tâm này cùng không thể so sánh được. Do đó, thành quả của trung tâm chi phí không định mức được đánh giá thông qua nguồn lực bỏ ra. Nhà quản lý sẽ dựa vào chênh lệch tuyệt đối lẫn tương đối giữa chi phí thực tế với chi phí dự toán. Bên cạnh đó, có thể đánh giá thành quả của trung tâm thông qua tỷ lệ hoàn thành mục tiêu đã đề ra. 2.5.2 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm doanh thu: Các chi tiêu đánh giá thành quả của trung tâm doanh thu là: – Sản lượng tiêu thụ trong kỳ – Doanh thu bán hàng thực tế trong kỳ Chênh lệch doanh thu = Doanh thu thực tế – Doanh thu dự toán – Chi phí bán hàng. – Tỷ lệ chi phí hoạt động trên doanh thu.
46. 36 Qua đó phân tích mức chênh lệch các chỉ tiêu thực tế phát sinh ở trên và chỉ tiêu dự toán tương ứng để đánh giá thành quả của trung tâm doanh thu 2.5.3 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận: Mục tiêu của trung tâm lợi nhuận là phải tổ chức các hoạt động sao cho đạt được lợi nhuận lớn nhất, tận dụng tối ưu về nguồn lực kinh tế tạo ra lợi nhuận. Về kết quả: kết quả của trung tâm lợi nhuận được đánh giá thông qua việc so sánh giữa lợi nhuận đạt được trong kỳ và lợi nhuận dự toán trong kỳ, từ đó phân tích các yêu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận làm phát sinh chênh lệch lợi nhuận. Chênh lệch lợi nhuận = Lợi nhuận thực tế – Lợi nhuận dự toán Về hiệu quả: đánh giá hiệu quả trung tâm lợi nhuận thông qua mức độ hoàn thành kế hoạch lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ lệ doanh thu trên chi phí,tỷ lệ lợi nhuận trên chi phí, hoặc dựa trên số dư đảm phí của bộ phận,… 2.5.4 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư: Các chỉ tiêu đo lường trung tâm đầu tư gồm tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI – Return on investment); lãi thặng dư (Residual Income); – Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI): được tính toán dựa trên lợi nhuận hoạt động và nguồn vốn đầu tư đê thu được lợi nhuận đó. ROI = Lợi nhuận Vốn đầu tư Sử dụng ROI là việc đánh giá hiệu quả đầu tư của các trung tâm đầu tư và các DN có quy mô vốn khác nhau để phân tích xem nơi nào đạt hiệu quả cao nhất, từ đó làm cơ sở đánh giá thành quả quản lý đồng thời tìm ra các nhân tố tác động đến hiệu quả quản lý, nhằm tìm ra các giải pháp để làm cho kết quả hoạt động được tốt hơn. Đó là các biện pháp cải thiện doanh thu, kiểm soát chi phí hay tính lại cơ cấu vốn đầu tư
47. 37 Nhân tố ảnh hưỏng đến ROI: Công thức tính ROI triển khai dạng Dupont: ROI = Lợi nhuận Doanh thu x Doanh thu Doanh thu Vốn đầu tư Hay ROI = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x số vòng quay của vốn đầu tư Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và số vòng quay của tài sản giúp giải thích sự biến động của ROI của một trung tâm đầu tư và sự khác nhau của ROI giữa các trung tâm đầu tư. – Lợi nhuận còn lại (RI): Lợi nhuận còn lại là một chỉ tiêu khác để đánh giá hiệu quả công việc của một trung tâm đầu tư. Lợi nhuận còn lại là phần còn lại của lợi nhuận hoạt động sau khi trừ đi lợi nhuận mong muốn tối thiếu từ tài sản được đầu tư của trung tâm đầu tư. RI = Lợi nhuận hoạt động – (Vốn đầu tư X Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư tối thiểu) Sử dụng chỉ số RI là cho biết lợi nhuận thực tế đã mang về là bao nhiêu, sau khi trừ đi các khoản chi phí sử dụng vốn để có được lợi nhuận trên; chỉ số RI còn cho biết có nên đầu tư gia tăng hay không khi mà sử dụng chỉ số ROI không đủ cơ sở để ra quyết định. 2.6 Báo cáo thành quả của trung tâm trách nhiệm Báo cáo thành quả của trung tâm trách nhiệm là một phương tiện quan trọng để cung cấp thông tin, xác định trách nhiệm cụ thể của các nhà quản trị đối với từng bộ phận mà mình quản lý. Hệ thống báo cáo thành quả của trung tâm trách nhiệm phải được lập định kỳ từ cấp quản lý thấp nhất và xây dựng ngược lên cấp quản lý cao hơn về các chỉ tiêu kinh tế, tài chính chủ. Mức độ chi tiết của báo cáo giảm dần theo sự gia tăng của các cấp quản lý trong tố chức. 2.6.1 Báo cáo đánh giá thành quả của trung tâm chi phí: Thành quá của các nhà quản trị ở trung tâm chi phí được đánh giá qua báo cáo thành quả được lập cho từng trung tâm chi phí riêng biệt. Báo cáo đánh giá thành qua của trung tâm chi phí được lập tùy thuộc vào yêu cầu của việc đánh giá trung
48. 38 tâm trách nhiệm. Bằng việc so sánh chi phí thực tế với dự toán, nhà quản trị sẽ đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi phí cũng như trách nhiệm của nhà quả trị đối với hoạt động của trung tâm chi phí. Thông tin đưa vào báo cáo thành quả để đánh giá thành quả của các nhà quản trị ở trung tâm chi phí là chi phí có thể kiểm soát được bởi từng nhà quản trị ở trung tâm chi phí. Bảng 2.2 Báo cáo thành quả quản lý chi phí của các phân xưởng sản xuất Chi phí có thể kiểm soát Thực tế Dự toán linh hoạt Chênh lệch dự toán linh hoạt Du toán tĩnh Chênh lệch khối lượng 1 2 3=1-2 4 5=2-4 Chi phí NVLTT Chi phí NCTT Chi phí sxc – Biển phí sxc – Định phí sxc Tống cộng Nguồn: Sách kế toán quản trị trường ĐHKT TP. HCM Các chênh lệch được phân tích tùy theo yêu cầu quản lý thành các biến động theo các nhân tố cấu thành chi phí đó. Báo cáo của trung tâm chi phí được tách biệt thành báo cáo đánh giá thành quả của trung tâm chi phí định mức và báo cáo đánh giá thành quả của trung tâm chi phí không định mức được. 2.6.2 Báo cáo thành quả của trung tâm doanh thu: Là báo cáo nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả hoạt động, dựa trên báo cáo thực hiện doanh thu thực tế so với doanh thu dự toán. Thành quả quản lý của các trung tâm doanh thu thường được đánh giá bằng việc so sánh doanh thu có thể kiểm soát giữa thực tế so với dự toán và phân tích các chênh lệch phát sinh do ảnh hưởng của các nhân tố như giá bán, sản lượng tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ đến sự biến động của doanh thu.
49. 39 Dựa vào báo cáo này, nhà quản trị DN sẽ đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu của từng trung tâm cũng như toàn DN, qua đó đánh giá trách nhiệm quản lý cúa người quản lý bộ phận tạo ra doanh thu. Bảng 2.3: Báo cáo thành quả quản lý doanh thu Doanh thu có the kiểm soát được Thực tế Dự toán linh hoạt Chênh lệch dự toán linh hoạt Dự toán tĩnh Chênh lệch khối lượng tiêu thụ SL GB DT SL GB DT SL GB DT SL GB DT SL GB DT Sản phẩm A Sản phẩm B Tổng Nguồn: Sách kế toán quản trị trường ĐHKT TP. HCM 2.6.3 Báo cáo thành quả của trung tâm lợi nhuận: Báo cáo đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận là một công cụ đánh giá sự thực hiện của các trung tâm lợi nhuận và trách nhiệm của những người đứng đầu bộ phận. Bộ phận ở đây là bất cứ một đơn vị hay một mặt hoạt động nào đó trong DN mà ở đó chịu trách nhiệm về lợi nhuận. Báo cáo thành quả được sử dụng để đánh giá thành quả quán lý của các nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận là báo cáo kết quả kinh doanh được trình bày dưới hình thức số dư đảm phí, nhưng chi bao gồm doanh thu và chi phí có thể kiểm soát bởi các nhà quản trị của trung tâm lợi nhuận. Bảng 2.4: Báo cáo đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận Chỉ tiêu Thực hiện Kế hoạch Biến động TH/KH Mức Tỷ lệ Doanh thu có thể kiểm soát Biến phí có thế kiêm soát Số dư đảm phí có thể kiểm soát Định phí có thể kiểm soát Lợi nhuận hoạt động có thể kiểm soát Nguồn: Sách kế toán quản trị trường ĐHKT TP. HCM
50. 40 2.6.4. Báo cáo thành quả của trung tâm đầu tư: Nhà quản trị thường sử dụng báo cáo thông qua các chỉ tiêu cơ bản như tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI) và lãi thặng dư (RI) để đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư. Bảng 2.5: Báo cáo thành quả của trung tâm đầu tư Chỉ tiêu Thực hiện Kế hoạch Chênh lệch 1. Doanh thu 2. Lợi nhuận hoạt động 3. Vốn đâu tư 4. Tỷ suât lợi nhuận trên doanh thu (2:1) 5. Số vòng quay vôn đâu tư (1:3) 6. Tỷ lệ hoàn vốn đâu tư (ROI) (4×5) 7. Lợi nhuận mong muốn tối thiêu 8. Lợi nhuận còn lại (RI) (=2-7) Nguồn: Sách kế toán quản trị trường ĐHKT TP. HCM Từ những thông tin về chỉ tiêu đánh giá, trách nhiệm của mồi trung tâm nêu trên, tác giả tập hợp thông tin như sau:
Recommended
Betsy Corcoran on Choosing the Right Technology for Your School
Betsy Corcoran on Choosing the Right Technology for Your School
Online Course – LinkedIn Learning
Insights from a Content Marketer
Insights from a Content Marketer
Online Course – LinkedIn Learning
Learning Everyday Math
Learning Everyday Math
Online Course – LinkedIn Learning
De tai to chuc ho so kiem toan tai cong ty kiem toan aasc, hay
De tai to chuc ho so kiem toan tai cong ty kiem toan aasc, hay
Lương Vũ
Đề tài: Tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại Xí nghiệp 9, HAY, 9đ
Đề tài: Tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại Xí nghiệp 9, HAY, 9đ
Lương Vũ
Đề tài: Biện pháp tăng lợi nhuận ở Công ty Sản Xuất Tân Á, HAY
Đề tài: Biện pháp tăng lợi nhuận ở Công ty Sản Xuất Tân Á, HAY
Lương Vũ
Đề tài: Kế toán chi phí sản xuất tại Công ty May II Hải Dương, HAY
Đề tài: Kế toán chi phí sản xuất tại Công ty May II Hải Dương, HAY
Lương Vũ
Đề tài: Kế toán và kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần Tôn Vikor
Đề tài: Kế toán và kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần Tôn Vikor
Lương Vũ
Đề tài: Tổ chức kế toán bán hàng tại công ty cấp nước Cửa Lò, HAY
Đề tài: Tổ chức kế toán bán hàng tại công ty cấp nước Cửa Lò, HAY
Lương Vũ
Đề tài: Quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại cục thuế huyện Kinh Môn
Đề tài: Quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại cục thuế huyện Kinh Môn

 

MÃ TÀI LIỆU: 1057

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

About Trang web mặc định

Check Also

Đề tài: Thiết kế hệ thống mạng máy tính, HAY, 9đ

TÓM LƯỢC DỰ ÁN.  Công ty tư vấn và dịch vụ tin học TTT …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *