Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn thạc sĩ ngành QTKD / Hệ thống bài tập Tiếng Việt theo hướng phát triển tư duy cho học sinh

Hệ thống bài tập Tiếng Việt theo hướng phát triển tư duy cho học sinh

1. Lý do chọn đề tài Tiếng Việt là một phân môn của môn Ngữ văn (một môn học chính yếu trong nhà trường phổ thông, có tầm quan trọng đặc biệt trong các môn khoa học xã hội và nhân văn) không chỉ có nhiệm vụ trau dồi kiến thức văn học, rèn luyện kỹ năng nói, viết mà còn góp phần hình thành nhân cách đạo đức, bồi dưỡng tâm hồn, ý thức dân tộc cho HS… Trong đó, Tiếng Việt đảm nhận một chức năng kép mà các môn học khác không có. Một mặt, môn học này cung cấp những tri thức ngôn ngữ học; mặt khác, nó cung cấp cho HS công cụ để giao tiếp, tiếp nhận và diễn đạt tri thức khoa học. Chất lượng dạy và học Tiếng Việt ở trường phổ thông có quan hệ trực tiếp đến năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy của các thế hệ HS và ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh tiếng Việt, vận mệnh văn hóa Việt Nam. Bởi tiếng mẹ đẻ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là công cụ để tư duy; là kết tinh của những giá trị bản sắc, tinh hoa văn hóa của dân tộc trong quá trình lịch sử lâu dài. Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ mật thiết mật thiết với nhau. Vì thế các hoạt động ngôn ngữ và các hoạt động tư duy, các sản phẩm ngôn ngữ và các sản phẩm tư duy cũng luôn gắn bó với nhau. Năng lực ngôn ngữ và năng lực tư duy của từng người có sự song song hình thành và phát triển. Thực tiễn giảng dạy đã cho thấy HS nào yếu về tư duy đồng thời cũng yếu về ngôn ngữ và ngược lại em nào yếu về ngôn ngữ cũng yếu về năng lực tư duy. Từ mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy có thể thấy môn Tiếng Việt có nhiều lợi thế trong việc rèn luyện và phát triển tư duy cho HS. Chính vì vậy, mục tiêu cơ bản của việc dạy học Tiếng là hình thành và phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp cho HS. Điều đó cũng có nghĩa là hình thành và phát triển điều kiện cần thiết, quan trọng để phát triển tư duy. Thế nhưng, việc dạy và học phân môn Tiếng Việt có những khó khăn nhất định nên hiệu quả chưa cao. Bên cạnh lý do HS và xã hội ngày càng ít quan tâm tới các môn khoa học xã hội còn nhiều lí do chủ quan, khách quan. Nhận thấy, ở các
10. 2 trường bậc Đại học, công việc giảng dạy được chuyên môn hóa triệt để (ví như ở khoa Ngữ văn trong các trường Đại học Sư phạm, phần Tiếng Việt được chia thành những mảng nhỏ, mỗi thầy cô phụ trách một mảng: Từ vựng, Ngữ pháp, Phong cách, Tiếng Việt thực hành…) còn ở trường phổ thông, khó khăn cho người GV Ngữ văn là họ phải đảm đương tất cả: Làm văn, Tiếng Việt (từ, câu, phong cách, thực hành…), Văn bản… Với một đại dương kiến thức như thế, thật khó để giảng dạy chuyên sâu! Thêm nữa, tiếng Việt là tiềm năng vốn có trong mỗi HS Việt Nam nhưng để định hướng, phát huy, phát triển cái vốn có ấy, đa phần GV và HS ngán, ngại, cũng bởi Tiếng Việt không nằm trong cấu trúc chương trình thi tốt nghiệp THPT nên cả người dạy lẫn người học đều có tâm lý qua loa. Về chương trình và PPDH có thể thấy một số hạn chế là: chương trình và SGK cũ (trước cải cách giáo dục năm 2006) có sự mất cân đối giữa tỉ lệ dạy lý thuyết (70%) và dạy thực hành (30%). Hệ thống bài tập còn sơ sài, thiếu sự phong phú và đa dạng về nội dung, chưa hấp dẫn về hình thức nên đã không có mấy tác dụng trong việc luyện nói, luyện viết cho HS. Về phương pháp, GV ít khai thác các dạng bài tập khác nhau, chưa sử dụng tốt bài tập hướng đến việc phát triển tư duy cho HS. Bên cạnh đó là cách dạy áp đặt, mang tính “đồng loạt” (ít chú ý đến phong cách học tập cá nhân) nên không phát huy được tối đa tư duy độc lập, tính tích cực của HS. Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới giáo dục, chương trình và SGK mới đã có sự thay đổi theo hướng lấy thực hành làm trọng tâm, chú ý đến cách dạy học phân hóa, hướng vào chủ thể HS, xây dựng được nhiều dạng bài tập khác nhau làm cho việc luyện tập có hiệu quả hơn. Nhưng từ lý luận đến thực tế bao giờ cũng có những khoảng cách nhất định. Hiện nay, ở một số trường phổ thông việc dạy và học Tiếng Việt vẫn còn mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa. Cách vận dụng thực hành của GV còn lúng túng, chưa thực sự khoa học, thiếu sự đồng bộ. Khi dạy thực hành, GV thường quan tâm đến kết quả giải bài tập mà chưa chú ý hướng HS đến cách giải, sửa lỗi và phát hiện lỗi sai trong quá trình giải nên chưa giúp HS hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề…

 

MÃ TÀI LIỆU: 11596

 

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN ( VÍ DỤ: 0324 – trinhnam34gmailcom) có thể bỏ chữ @ mới gửi được)
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

About hien

Check Also

30 đề tài đạt điểm cao ngành kế toán xác định kết quả kinh doanh

Bạn là sinh viên chuyên ngành kế toán, bạn muốn làm đề tài kế toán …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *