Home / Luận văn thạc sĩ / LV thạc sĩ TCNH / Đề tài: Nghiệp vụ Bảo lãnh Xuất nhập khẩu tại ngân hàng VCB

Đề tài: Nghiệp vụ Bảo lãnh Xuất nhập khẩu tại ngân hàng VCB

LỜI MỞ ĐẦU Tính tất yếu của đề tài Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã phát triển nhanh cả về quy mô và chất lượng. Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc điều hành chính sách tiền tệ, ổn định tỷ giá, lãi suất và kiềm chế lạm phát, góp phần làm ổn định kinh tế và tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế ở mức độ cao. Đặc biệt từ sau khi hội nhập WTO, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã mở rộng rất nhanh và có những đóng góp quan trọng nhất định đối với công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng cơ sở hạ tầng quốc gia, chăm lo cho đội ngũ doanh nghiệp, góp phần phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; đặc biệt trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế phát triển ngày càng sâu rộng mở ra nhiều cơ hội phát triển cho nền kinh tế. Các doanh nghiệp ngày càng có nhiều mối quan hệ kinh doanh thương mại với các doanh nghiệp trên thế giới. Hoạt động của các Ngân hàng thương mại cũng ngày càng phát triển theo hướng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ. Thương mại quốc tế phát triển tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng làm gia tăng thêm nhiều rủi ro. Với vai trò trung gian trong nền kinh tế, các ngân hàng không ngừng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ như tín dụng, thanh toán xuất nhập khẩu, tài trợ thương mại,….và đặc biệt là dịch vụ bảo lãnh xuất nhập khẩu. Là một chi nhánh ngân hàng thuộc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, được sự uỷ quyền của Ngân hàng trung ương, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cũng đã triển khai nghiệp vụ bảo lãnh xuất nhập khẩu nhằm phục vụ nhu cầu bảo lãnh của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu trong điều
8. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương SV: Lê Thị Ngọc Thuỳ Lớp: Kinh tế quốc tế 47 2 kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, vì là một nghiệp vụ còn khá mới nên nghiệp vụ này chưa phát triển tương xứng với nhu cầu của nền kinh tế. Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội, xét thấy nghiệp vụ bảo lãnh xuất nhập khẩu còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu nên em chọn đề tài “Nghiệp vụ bảo lãnhxuất nhập khẩu: Thực trạng và giải pháp phát triển tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề thực tập của mình. Mục đích nghiên cứu đề tài – Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ bảo lãnh xuất nhập khẩu của các Ngân hàng thương mại. – Phân tích, đánh giá kết quả hoạt động của nghiệp vụ bảo lãnh xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội. – Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động bảo lãnh xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là nghiệp vụ bảo lãnh xuất nhập khẩu tại các Ngân hang thương mại và thực trạng hoạt động của nghiệp vụ bảo lãnh xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội. Từ đó phân tích những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế để đề ra các giải pháp phát triển. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trong những năm gần đây, đặc biệt trong giai đoạn 2006 – 2008. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phương pháp so sánh được sử dụng xuyên suốt trong quá trình làm chuyên đề.
9. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương SV: Lê Thị Ngọc Thuỳ Lớp: Kinh tế quốc tế 47 3 Kết cấu của chuyên đề Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm 3 chương chính như sau: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về bảo lãnh xuất nhập khẩu của các Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
10. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương SV: Lê Thị Ngọc Thuỳ Lớp: Kinh tế quốc tế 47 4 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO LÃNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Tổng quan chung về bảo lãnh ngân hàng 1.1.1. Khái niệm bảo lãnh và bảo lãnh ngân hàng Xét trên phạm vi toàn xã hội, hoạt động “bảo lãnh” đang phát triển hết sức phong phú và đa dạng như bảo lãnh của một tổ chức quốc tế đối với một nước; bảo lãnh giữa công ty mẹ với công ty con; bảo lãnh của nhà nước với doanh nghiệp; bảo lãnh của ngân hàng với cá nhân, doanh nghiệp,…Chúng ta cũng thường nghe nói đến bảo lãnh xuất nhập cảnh, bảo lãnh tạm tha,…Với mỗi lĩnh vực khác nhau, “bảo lãnh” lại có những đặc trưng riêng. Theo điều 362 – Bộ Luật Dân sự Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “bảo lãnh” được hiểu là: “Việc người thứ ba (người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (người nhận bảolãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (người được bảo lãnh) nếu khi đến hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ….” . Trong lĩnh vực ngân hàng, “bảo lãnh” cũng được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau:  Xét về góc độ học thuật, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức “Tín dụng chữ ký – Signature Credit”, là hoạt động sinh lời mà ngân hàng không cần phải bỏ vốn.  Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định: “Bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cung cấp tín dụng , được thực hiện
11. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương SV: Lê Thị Ngọc Thuỳ Lớp: Kinh tế quốc tế 47 5 thông qua sự cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay” (Giáo trình thanh toán quốc tế – Học viện Ngân hàng)  Theo điều 2 – Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Bảolãnhngân hàng là sự cam kết của ngân hàng với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay” .  Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như là một loại hình tài trợ ngoại thương với mục đích nhằm phòng ngừa các tổn thất cho người thụ hưởng bảo lãnh trong trường hợp có sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác có liên quan. Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm bảo lãnh ngân hàng được quy định trong Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước được sử dụng phổ biến hơn cả. Trong một nghiệp vụ bảo lãnh, thường có ít nhất 3 bên tham gia, đó là: người bảo lãnh, người được bảo lãnh (người xin bảo lãnh) và người thụ hưởng bảo lãnh. Quan hệ giữa các bên được quy định bới 3 hợp đồng độc lập nhau: hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh; hợp đồng giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh và người được bảo lãnh; hợp đồng giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh.
12. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương SV: Lê Thị Ngọc Thuỳ Lớp: Kinh tế quốc tế 47 6  Người bảo lãnh – The Guarantor: Là người dùng uy tín của mình đứng ra cam kết sẽ chịu trách nhiệm thay cho người được bảo lãnh trong trường hợp họ không thực hiện đúng hợp đồng với bên hưởng thụ bảo lãnh. Trong bảo lãnh ngân hàng, người bảo lãnh là ngân hàng với khả năng tài chính và uy tín được bên thụ hưởng chấp nhận. Ngân hàng bảo lãnh có khi chỉ là một ngân hàng phục vụ người xin bảo lãnh (trong trường hợp bảo lãnh trực tiếp); và cũng có khi là hai ngân hàng tham gia, trong đó một ngân hàng phục vụ người xin bảo lãnh, một ngân hàng phục vụ người thụ hưởng bảo lãnh (trong trường hợp bảo lãnh gián tiếp).  Người xin bảolãnhhay người được bảo lãnh – The Principal: Là người yêu cầu để được ngân hàng đứng ra bảo lãnh.  Người thụ hưởng bảolãnh – The Beneficary: Là người được ngân hàng bảo lãnh thanh toán nếu bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng. 1.1.2. Đặc điểm và tính chất của bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng thực chất là lời hứa thanh toán của ngân hàng đối với người thụ hưởng bảo lãnh khi người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng. Do đó, nó là một công cụ bảo đảm chứ không phải là một công cụ thanh toán với các đặc điểm như sau:  Tính độc lập tương đối – Độc lập với hợp đồng “chính”: Quan hệ của các bên khi tham gia vào một “bảo lãnh ngân hàng” được quy định bởi 3 hợp đồng và các bên trong mỗi hợp đồng lại có quyền và nghĩa vụ riêng. + Hợp đồng thứ nhất: hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh.

 

MÃ TÀI LIỆU: 0092

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

About hien

Check Also

Luận văn: Quản lý chi đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước, HOT

1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn Hoạt động đầu tư phát triển …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *