Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn thạc sĩ ngành Luật / Đề tài ngành Luật: Pháp luật bảo vệ tài nguyên đất đai, 9 Đ,HAY

Đề tài ngành Luật: Pháp luật bảo vệ tài nguyên đất đai, 9 Đ,HAY

Tổng quan về đơn vị thực tập 2.1. Giới thiệu chung về đơn vị thực tập 2.1.1. Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý An Giang có diện tích 3.536,7 km² bằng 1,03% diện tích cả nước và đứng thứ 4 so với 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp, phía bắc và tây bắc giáp hai tỉnh Kandal và Takéo của Campuchia với đường biên giới dài gần 104 km, phía tây nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp thành phố Cần Thơ. Điểm cực Bắc trên vĩ độ 10057′ (xã Khánh An, huyện An Phú), cực Nam trên vĩ độ 10012′ (xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực Tây trên kinh độ 1040 46′ (xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn), cực Đông trên kinh độ 105035′ (xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới). Chiều dài nhất theo hướng Bắc Nam là 86 km và Đông Tây là 87,2 km. 2.1.1.3. Khí hậu
10. 8 Với vị trí đó An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt gồm mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 độ C, lượng mưa trung bình năm khoảng 1.130 mm. Độ ẩm trung bình 75 – 80%, khí hậu cơ bản thuận lợi cho phát triển nông nghiệp 2.1.2. Tài nguyên môi trường 2.1.2.1. Điều kiện tự nhiên Là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có hệ thống giao thông thủy, bộ rất thuận tiện. Giao thông chính của tỉnh là một phần của mạng lưới giao thông liên vùng quan trọng của quốc gia và quốc tế, có cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Vĩnh Xương – Tân Châu và Long Bình – An Phú. Đó là lợi thế cho quá trình mở cửa, phát triển và hội nhập kinh tế An Giang với các tỉnh trong khu vực, ngoài nước, nhất là khu vực Đông Nam Á. An Giang có nguồn nước mặt và nước ngầm rất dồi dào. Sông Tiền và sông Hậu chảy song song từ Tây Bắc xuống Đông Nam trong địa phận của tỉnh dài gần 100 km, lưu lượng trung bình năm 13.800 m3 /s. Bên cạnh đó có 280 tuyến sông, rạch và kênh lớn, nhỏ, mật độ 0,72 km/km². Chế độ thủy văn của tỉnh phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước của sông Mê Kông, hàng năm có gần 70% diện tích tự nhiên bị ngập lũ, thời gian ngập lũ từ 3 – 4 tháng, vừa đem lại lợi ích to lớn – đưa lượng phù sa, vệ sinh đồng ruộng… nhưng cũng đã gây ra những tác hại nghiêm trọng. Trong 30 năm qua đã có đến 5 lần ngập cao làm thiệt hại tính mạng, mùa màng, cơ sở hạ tầng, nhà ở của cư dân… làm cho suất đầu tư của tỉnh thường ở mức cao nhưng hiệu quả mang lại bị hạn chế. Về đất đai và thổ nhưỡng, An Giang có 6 nhóm chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa 151.600 ha chiếm 44,5% diện tích đất tự nhiên; nhóm đất phù sa có phèn 93.800 ha chiếm 27,5%; nhóm đất phát triển tại chỗ và đất phù sa cổ 24.700 ha chiếm 7,3%; còn lại là đất phèn và các nhóm khác. 2.1.2.2. Tài nguyên thiên nhiên An Giang có 37 loại đất khác nhau, hình thành 6 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa trên 151.600 ha, chiếm 44,5%. phần lớn đất đai điều màu mỡ vì 72% diện tích là đất phù sa hoặc có phù sa, địa hình bằng phẳng, thích nghi đối với nhiều loại cây trồng.
11. 9 Trên địa bàn toàn tỉnh có trên 583 ha rừng tự nhiên thuộc loại rừng ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng, với 154 loài cây quý hiếm thuộc 54 họ, ngoài ra còn có 3.800 ha rừng tràm. Sau một thời gian diện tích rừng bị thu hẹp, những năm gần đây tỉnh đã chú ý nhiều tới việc gây lại vốn rừng. Động vật rừng An Giang cũng khá phong phú và có nhiều loại quý hiếm. Rừng tập trung chủ yếu ở vùng Bảy núi tạo nên nhiều phong cảnh đẹp cùng với những di tích văn hóa – lịch sử, góp phần phát triển kinh tế địa phương tương đối đa dạng. Nguồn lợi thủy sản trên hai con sông Tiền sông Hậu không nhỏ, và cùng với hệ thống kênh, rạch, ao, hồ đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi cá bè, ao hầm, tôm trên chân ruộng mà từ lâu nó đã trở thành nghề truyền thống của nhân dân địa phương – đây cũng là thế mạnh đặc trưng ở An Giang. Ngoài ra, An Giang còn có tài nguyên khoáng sản khá phong phú, với trữ lượng khá đá granít trên 7 tỷ m3, đá cát kết 400 triệu m3, cao lanh 2,5 triệu tấn, than bùn 16,4 triệu tấn, vỏ sò 30 – 40 triệu m3, và còn có các loại puzolan, fenspat, bentonite, cát sỏi,… Với những thế mạnh về đất đai và khí hậu An Giang được xem là tỉnh có tiềm năng du lịch. Du lịch của tỉnh tập trung vào các lĩnh vực văn hoá, du lịch sinh thái, du lịch vui chơi giải trí và du lịch nghỉ dưỡng. Tài nguyên khoáng sản cũng là lợi thế của tỉnh An Giang so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long khác, nguồn đá, cát, đất sét là nguyên liệu quý của ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, đáp ứng nhu cầu rất lớn của vùng đồng bằng sông Cửu Long về vật liệu xây dựng 2.1.3. Dân cư Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh là 2.159.900 người, mật độ dân số 611 người/km². Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long. 30.7% dân số sống ở đô thị và 69.3% dân số sống ở nông thôn. Toàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17% tổng dân số toàn tỉnh. Dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh; trong đó có 16.838 hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 92% tổng số dân tộc Khmer toàn tỉnh) sống tập trung ở 2 huyện miền núi: Tri Tôn và Tịnh Biên, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn. Hầu hết đồng bào dân tộc
12. 10 Khmer theo Phật giáo Nam tông, có mối quan hệ rộng rãi với đồng bào dân tộc Khmer các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia. Nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào Khmer từ trồng trọt, chăn nuôi gia súc và làm thuê mướn theo thời vụ. Dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trung khá đông ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú và Châu Thành. Hầu hết đồng bào Chăm theo đạo Hồi, có mối quan hệ với tín đồ Hồi giáo các nước Ả Rập, Malaysia, Indonesia, Campuchia. Nguồn thu nhập chính bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống. Dân tộc Hoa có 2.839 hộ, 14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh. Đại bộ phận sống ở thành phố, thị huyện, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong vùng và nhiều nước trên thế giới. Đồng bào người Hoa phần lớn theo Phật giáo Đại thừa, đạo Khổng và tín ngưỡng dân gian. Một bộ phận lớn kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định, thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác. Về tôn giáo, An Giang là nơi xuất phát của một số tôn giáo nội sinh như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo… An Giang hiện có 9 tôn giáo được Nhà nước công nhận, gồm: Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Tin Lành, Tịnh Độ Cư sĩ, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hồi giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, với gần 1,8 triệu tín đồ (chiếm 78% dân số toàn tỉnh), 487 cơ sở thờ tự hợp pháp, 602 chức sắc và trên 3.400 chức việc 2.2. Vị trí công việc thực tập
13. i PHẦN II: ĐỀ TÀI THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
14. ii MỤC LỤC MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………………………………1 1. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………………………………………………..1 2. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………………………………………………1 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………………….2 3.1. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………………………………………..2 3.2. Phạm vi nghiên cứu ………………………………………………………………………………………..2 4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………………………………2 5. Kết cấu đề tài …………………………………………………………………………………………………….2 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI…………………………………………………………………………………..3 1.1. Cơ sở lý luận của Quản lý Nhà nước về đất đai ………………………………………………..3 1.2. Nội dung và phương pháp quản lý Nhà nước về đất đai…………………………………….6 1.3. Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai tỉnh An Giang ………………………………………7 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HỢP LÝ…………………………. 11 2.1. Thực trạng sử dụng tài nguyên đất trong một số ngành ở tỉnh An Giang ……… 11 2.1.1. Trong nông – lâm – ngư nghiệp…………………………………………………………………. 11 2.1.2. Đất phi nông nghiệp …………………………………………………………………………………. 19 2.1.3. Đất chưa sử dụng……………………………………………………………………………………… 23 2.2. Những giải pháp để sử dụng hợp lí tài nguyên đất ở tỉnh An Giang……………… 24 2.2.1. Giải pháp quản lí quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất…………………………………… 24 2.2.2. Giải pháp về công tác quản lí tài nguyên đất …………………………………………….. 26 2.2.3. Giải pháp khai thác đối với từng nhóm đất ……………………………………………….. 27 2.2.4. Giải pháp cải tạo, canh tác trên đất dốc (đối với các huyện như Châu Thành, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên)………………………………………………………………………….. 29 2.2.5. Giải pháp tuyên truyền quản lí giáo dục, xã hội ………………………………………… 31 2.2.6. Giải pháp xây dựng hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn ………………………. 31 2.2.7. Các giải pháp khác……………………………………………………………………………………. 32 KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………………….. 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………………………….. 39
15. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được của các ngành sản xuất, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là các nguồn lợi tự nhiên như khí hậu, thời tiết, nước, không khí, khoáng sản nằm trong lòng đất…, Đặc biệt, với Việt Nam – một dân tộc vốn sống bằng nông nghiệp, có nghề trồng lúa nước lâu đời và ngày nay đang trên đà xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Giá trị quý báu của đất đai đã được người dân Việt Nam đúc kết trong câu tục ngữ “Tấc đất, tấc vàng”. An Giang là một tỉnh miền tây Nam bộ, bắt đầu từ sông Mê Kông chảy vào nước ta chia ra làm đôi. tỉnh có phía tây bắc giáp Campuchia, phía tây nam giáp kiên Giang, phía nam giáp thành phố Cần Thơ, phía đông giáp Đồng Tháp. Tỉnh An Giang có tổng diện tích tự nhiên 353.676 ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp 280.658 ha, đất lâm nghiệp 14.724 ha, một phần của An Giang nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên. Khác với các tỉnh miền tây khác, bên cạnh vùng đồng bằng phù sa, An Giang còn có một miền núi nhỏ, dài 30km, rộng 13km. Đó là dãy Bảy Núi (Thất Sơn) ở các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn. Phía tây tỉnh, chạy song song với biên giới là kênh Vĩnh Tế, được đào năm 1823 nối từ Châu Đốc đến Hà Tiên. Với lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tỉnh An Giang đã và đang có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội.

 

MÃ TÀI LIỆU: 0635

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

About hien

Check Also

Phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan khác, 9đ

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thi hành án dân sự (THADS) …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *