Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn thạc sĩ ngành QTKD / Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở ở quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh

Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở ở quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh

1. Lý do chọn đề tài Trong giai đoạn hiện nay,khi đời sống kinhtếxãhội cónhiềuthayđổi,sự tác độngcủa mặt trái của kinh tế thị trường,sự bùngnổthôngtin,đã tácđộngmạnh đến nhậnthức, tình cảm của thanh, thiếuniên, làm chothếhệtrẻ cónhiềubiểuhiệnlệchlạc, sốngxa rời các giá trị đạo đức truyềnthống,tìnhtrạngbạo lực họcđườngcótổchức ngày một gia tăng. Theo số liệubáocáo từ cácbộ,ngànhtại phiêngiải trìnhcủaChính phủtừ Ủy ban VHGDThanh Thiếu niênNhi đồngcủaQuốchội ngày 15/2/2012cho thấy,tình trạng bạo lực học đườngđãđếnmức nghiêm trọng,trêntoànquốcđã xảy ra khoảng 1.598 vụ HS đánh nhauở trongvàngoài trườnghọc, trungbìnhcứ 9trườnghọc thì xảy ra một vụ HS đánh nhau. Có nhiều nguyên nhân dẫnđếntìnhtrạng trên,nhưngtheocác chuyêngiaGD, nguyên nhân sâu xa là do các em thiếuKNS.Cácem chưabaogiờ đượcdạy cách đương đầu với những khó khăncủacuộc sốngnhư chamẹ lyhôn,giađìnhphá sản,kết quảhọc tập yếu kém… đã bị lôi cuốn vào lối sống thực dụng, đua đòi, không đủ bản lĩnh nói “không” với cái xấu.Các em khôngđượcdạyđể hiểu vềgiátrị của cuộc sốngvà những KNS cần thiết. Trong những giai đoạn phát triển của con người thì lứa tuổi Thiếu niên, tức lứa tuổi HS bậc THCS (từ 11, 12 tuổi đến 14, 15 thậm chí 16, 17 tuổi nếu trẻ học trễ) là lứa tuổi đang ở thời kỳ phát triển phức tạp nhất, nhiều biến động nhất nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này của các em [51]. Các em cần được quan tâm GD, rèn luyện nhiều hơn những KN cần thiết trong học tập, trong quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống. Việc GDKNS ở trường họcsẽ giúpthúc đẩy nhữnghànhvi mang tínhxãhội tích cựccho người học; đồng thời tạonhữngtácđộngtốt đối với cácmối quanhệ giữa thầy vàtrò, giữa HS với nhau; giúp tạonên sự hứngthúhọctậpchocác em, đồngthời giúp cánbộ quản lý, người GVhoànthành nhiệm vụmột cách đầy đủhơnvàđềcao các chuẩn mực đạo đức, góp phần nângcaovị trí của nhàtrườngtrongxãhội.
6. Căn cứ chỉ thị 40/2008/CT–BGDĐT ngày 22/7/2008củaBộTrưởngBộ GD&ĐT và kế hoạch số 1842/GDĐT-TrHngày 29/8/2008của Sở GD&ĐT thànhphố HồChí Minh về “Xây dựng trườnghọcthânthiện,họcsinhtíchcực” trongcác trường phổthông giai đoạn 2008 -2013,thì việc GDKNS choHS bậcTHCS làmột trong5nội dungthiết thực để xây dựng trườnghọc thânthiện[12]. Để đạt được mục tiêu đềrađòi hỏi phải giải quyết nhiềuvấn đềmột cáchđồng bộ,trong đó công tác quản lý GDKNS chocác em giữ vị trí đặcbiệt quantrọng,trực tiếp gópphần nâng cao chất lượng GDKNS,hìnhthànhở cácemnhữngkỹnăngcần thiết để ứngphó với những thay đổi khôngngừngcủacuộcsống hiệnnay. Do đó, việc lựa chọn vấnđề: “Biện phápquản lýgiáodục kỹnăngsống cho họcsinh Trung học cơ sở ở quận Phú Nhuận,thành phốHồChí Minh” làm đềtài luậnvăn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâusắc. 2. Tình hình nghiên cứu cóliên quan đến đềtài Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ “KNS” đã được các nhà tâm lý học thực hành đưa ra và coi đó như là một trong những KN xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân. Vấn đề GDKNS được đặt nền móng, được quan tâm tìm hiểu từ thập niên 80 của thế kỷ XX. Bắt đầu từ năm 1979, Gilbert J.Botvin, GS – TS tâm lý học người Mỹ, đã công bố một chương trình GDKNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên, nhằm giúp xây dựng cho các em có những khả năng từ chối những lời mời, rủ rê sử dụng chất gây nghiện bằng cách nâng cao sự tự khẳng định bản thân, KN ra quyết định và tư duy phê phán [44]. Chương trình đã triển khai rộng rãi trong các trường học khác nhau, từ trường công lập đến các trung tâm tạm giam thanh thiếu niên trên toàn nước Mỹ và cho đến nay vẫn được đánh giá cao[50]. Như vậy, GDKNS đã được quan tâm và phát triển khá sớm, nhằm thúc đẩy lối sống lành mạnh ở thế hệ trẻ, tạo nền tảng vững chắc cho các em khi bước vào cuộc sống sau này. Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi mọi người, đặc biệt là trẻ em, phải đối phó với các vấn đề xã hội lớn như: chiến tranh, sự suy thoái của môi
7. trường, đại dịch HIV, nạn ma túy, thất nghiệp, nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em… thì các tổ chức của Liên Hiệp Quốc (LHQ) như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ cứu trợ Nhi đồng LHQ (UNICEF), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa LHQ (UNESCO) đã chung sức xây dựng chương trình GDKNS cho thanh thiếu niên. Theo tổ chức UNICEF hiện đã có hơn 164 quốc gia trên thế giới đã cam kết thực hiện Kế hoạch hành động DAKAR về “Giáo dục cho mọi người”, trong đó có bao gồm GDKNS, một trong những nhu cầu học tập cơ bản cho những người trẻ [45]. GDKNS được xem như một thành tố quan trọng để đánh giá GD hiện nay. Tại các nước phát triển như Mỹ, Anh … GDKNS được đặc biệt coi trọng và có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị cao như: Mô hình tác động của việc GDKNS của Birell Weisen và Orley đưa ra năm 1994 [43] của tổ chức TACADE của Anh đề ra. Tại các nước đang pháp triển chủ yếu là tại các khu vực Mỹ Latinh, Châu Phi, Châu Á, với sự tài trợ của các tổ chức LHQ, chương trình GDKNS đã được phát triển rộng khắp và tiếp cận được với thanh thiếu niên, thông qua mạng lưới toàn cầu, các cuộc hội thảo, cung cấp tư liệu, vật liệu cho các nước thành viên và phối hợp chặt chẽ với nhau. Năm 1996, một hội thảo về KNS được tổ chức tại Costa Rica nhằm đẩy mạnh GD sức khỏe thông qua GDKNS trong các trường học và xem đó như là những ưu tiên của mạng lưới y tế tại Mỹ La tinh. Colombia cũng có chương trình GDKNS bao gồm các tài liệu hướng dẫn hoạt động thiết kế cho học sinh từ lớp 4 đến lớp 9 và được thực hiện tại các trường nghèo trong 20 thành phố. Tại Botswana, từ năm 1996, chương trình “Growing Up” (trưởng thành) ra đời nhằm thực hiện GDKNS cho một số trường tiểu học và đã đạt được nhiều thành công và càng được mở rộng với trọng tâm mới là HIV/AIDS. Tại Thái Lan năm 1996, GDKNS được đưa ra cùng với chương trình ngăn chặn HIV/AIDS, được thực hiện ở cả 3 bậc học phổ thông, chủ yếu là qua các hoạt động ngoại khóa, hiện nay được mở rộng thêm các lĩnh vực:
8. sức khỏe sinh sản, thuốc lá và ma túy, vấn đề về giới… và trở thành nội dung bắt buộc giảng dạy trong chương trình của nhà trường. Như vậy, KNS đã được nghiên cứu, tích hợp vào GD thông qua chương trình GDKNS, được triển khai rộng rãi trên thế giới, cả trong GD chính quy và không chính quy và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các công trình nghiên cứu trong nước Từ năm 1996, thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho Thanh Thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: KN tự nhận thức, KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN ra quyết định, KN đặt mục tiêu… do các chuyên gia Úc tập huấn [54]. Tham gia chương trình đầu tiên này có ngành Giáo dục và Hội Chữ Thập đỏ. Sang giai đoạn 2, chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS” đã làm rõ hơn khái niệm về KNS. Ngoài ngành Giáo dục, đối tác tham gia còn có hai tổ chức xã hội chính trị là Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội LHPN Việt Nam. Khái niệm KNS chỉ thật sự được hiểu thấu đáo sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS” do UNESSCO tài trợ tổ chức từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. KNS được tiếp cận trên bốn trụ cột của giáo dục bao gồm: Học để biết (Learning to know), Học để làm (Learning to do), Học để tự khẳng định (Learning to be) và Học để cùng chung sống (Learning to live together) [53]. Sau thành công của dự án “Sống lành mạnh và KNS”, UNICEF đã hỗ trợ đưa việc GDKNS vào chương trình giảng dạy trong chu kỳ chương trình mới (2006- 2010). Ngày 22/11/2008, Viện Nghiên cứu Giáo dục – Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo “Nhận thức và thái độ của học sinh, sinh viên về định hướng tương lai” tại thành phố Hồ Chí Minh; Hội thảo “GDKNS cho học sinh phổ thông” được Bộ GD&ĐT tổ chức tại Hà Nội

 

MÃ TÀI LIỆU: 0515

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

About hien

Check Also

Đề tài: Xây dựng kế hoạch kinh doanh thiết bị điện tại công ty cổ phần điện lực Khánh Hòa tới 2022

LỜI NÓI ĐẦU Thị trường thiết bị ngành điện ở Việt Nam hiện nay rất …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *