Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn thạc sĩ ngành QTKD / Biện pháp của Hiệu trưởng trong quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Biện pháp của Hiệu trưởng trong quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

1. Lý do chọn đề tài Giáo dục đạo đức cho học sinh là một trong những phạm trù trung tâm của lý luận giáo dục, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mọi nhà trường. Trong lịch sử phát triển của các khoa học giáo dục, đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về vấn đề GDĐĐ cho học sinh. Trong các công trình đó đã có một số ý kiến đề cập đến vai trò quản lý của nhà trường, của Hiệu trưởng với những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây đều tiếp cận vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh dưới góc độ của khoa học giáo dục. Những năm gần đây, một số đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục đã nghiên cứu về quản lý giáo dục ở các nhà trường, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trong GDĐĐ cho học sinh THCS trên địa bàn Hà Nội. Đây là một khoảng trống của lý luận quản lý giáo dục đòi hỏi phải nghiên cứu. Xét trên phương diện lý luận, QLGDĐĐ cho học sinh THCS thuộc phạm trù quản lý nhà trường, về cơ bản tuân thủ theo lý thuyết quản lý nhà trường, chịu sự chi phối của quy luật, mục tiêu, nội dung, phương pháp quản lý nhà trường. QLGDĐĐ cho học sinh vừa là quản lý một nội dung, nhiệm vụ giáo dục cụ thể của nhà trường, vừa là quản lý nhân sự người học. Đó là những thành tố quan trọng trong cấu trúc quá trình giáo dục ở nhà trường, là những thành tố đang có tính thời sự trong lĩnh vực giáo dục. Vì vậy, QLGDĐĐ cho học sinh THCS là một vấn đề có tính cấp thiết trong lý luận quản lý giáo dục nhà trường hiện nay. Về phương diện thực tiễn, GDĐĐ cho học sinh nói chung và học sinh ”. Tại Hội thảo khoa học toàn quốc của Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam, tổ chức từ ngày 17 đến 19 tháng 7 năm 2008, với chủ đề “Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở nước ta: Thực trạng và giải pháp”, các nhà khoa 3
6. học, nhà sư phạm đã thẳng thắn nhìn vào sự thật, chỉ ra số liệu đáng báo động về sự tha hoá đạo đức của học sinh, sinh viên hiện nay. Nhiều ý kiến cho rằng, sau gần ba thập kỉ đổi mới, Việt Nam đã thu được nhiều thành công về kinh tế, vị thế chính trị, xã hội của quốc gia có nhiều điều đáng tự hào, nhưng chúng ta lại phải đứng trước những thử thách mới về sự tha hoá đạo đức đang diễn ra ở nhiều lứa tuổi, trong mọi mối quan hệ, mọi lĩnh vực hoạt động của toàn xã hội. Nguy hiểm hơn là ở chỗ, sự tha hoá về đạo đức diễn ra cả trong các nhà trường THCS, nơi tập trung của trẻ em học sinh đang ở độ tuổi hình thành nhân cách, nơi được mệnh danh là “những lò luyện đạo đức” đầu tiên của cuộc đời. Thử thách đó không dễ gì vượt qua được, nếu không có giải pháp tích cực về chấn hưng GDĐĐ, không tạo ra sự đồng thuận trong giáo dục giữa gia đình với nhà trường và xã hội. Thực tiễn đó đặt ra những yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải tìm ra giải pháp tổ chức, điều khiển hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở các nhà trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội. Những vấn đề thực tiễn đặt ra trong GDĐĐ cho học sinh các trường THCS hiện nay cũng là sự trăn trở của bản thân tôi trong nhiều năm qua. Là một CBQL giáo dục ở một trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội, tôi mong muốn tìm ra những biện pháp quản lý thật sự khoa học để nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho học sinh. Sau khi được trang bị kiến thức lý luận về khoa học quản lý giáo dục, cùng với kinh nghiệm thực tiễn quản lý giáo dục tích luỹ được trong những năm qua, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: Biện pháp của Hiệu trưởng trong quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Nếu nghiên cứu thành công đề tài luận văn này, nhà trường chúng tôi sẽ có thêm cơ sở khoa học và thực tiễn, hỗ trợ cho hoạt động QLGDĐĐ học sinh đạt được hiệu quả cao hơn. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
7. Giáo dục đạo đức cho học sinh luôn là “vấn đề nóng” trong mọi thời đại, mọi nền giáo dục. Trên thế giới, từ thời cổ đại, các nhà giáo dục lớn đã đặt vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ trung tâm của các nhà trường. Ở phương Đông, Khổng Tử, là nhà giáo dục đã có nhiều công lao đặt nền móng cho lý luận GDĐĐ học sinh. Nhiều tư tưởng GDĐĐ của ông đến nay vẫn còn lưu truyền trong các nền giáo dục hiện đại của nhiều quốc gia. Ở phương Tây, từ thời cổ đại, Aristôt đã chia con người thành ba bộ phận là xương thịt, ý chí và lý chí, tương đương với cấu trúc đó có ba nội dung giáo dục là thể dục, đức dục và trí dục. GDĐĐ cho học sinh là một trong ba nội dung của giáo dục. Tư tưởng coi trọng GDĐĐ cho học sinh được lưu truyền qua các thời kỳ lịch sử giáo dục của mọi quốc gia. Sang thời kỳ văn hoá phục hưng, cùng với sự xuất hiện của các nhà khoa học giáo dục lớn là sự ra đời của các tác phẩm, các tư tưởng mới về GDĐĐ cho học sinh. J.A. Cômenxky (1592 – 1670), trong tác phẩm Khoa sư phạm vĩ đại của mình, Ông cho rằng: nhà trường là “xưởng rèn nhân cách”, quá trình giáo dục phải tuân theo quy luật phát triển tự nhiên “như sinh hoạt của cỏ, cây, hoa, lá, của cuộc sống xem có phù hợp không, nếu không phù hợp sẽ trái quy luật và dẫn tới đổ vỡ trong giáo dục” [31, tr.87]. J.J. Rútxô (1712 – 1778), nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục người Pháp đã chủ trương đưa trẻ em về nông thôn để giáo dục, cải tạo tính nết của các em. Ông quan niệm, nông thôn không có những tệ nạn xấu, đó là nơi có môi trường GDĐĐ tốt hơn thành thị. Mặc dù quan niệm của ông có sai lầm về phương pháp luận nhưng yếu tố hợp lý của ông là ở chỗ coi trọng vai trò của môi trường xã hội trong GDĐĐ. Đứng trên vai những người khổng lồ của thời kỳ văn hoá phục hưng, Mác, Ănghen đã xây dựng nên học thuyết khoa học của mình, trong đó đặt 5
8. vấn đề phát triển xã hội gắn với phát triển toàn diện con người. Hai ông đã chỉ ra sự tất yếu xuất hiện của một kiểu đạo đức mới trong lịch sử – đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân. Theo Ph.Ăngghen, đây là nền đạo đức “đang tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai, tức là đạo đức vô sản, là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài” [30, tr.136]. Tiếp tục tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen, trong quá trình đấu tranh chống lại các học thuyết đạo đức duy tâm, phản động đang đầu độc giai cấp công nhân và nhân dân lao động, V.I. Lênin đã khẳng định sự tất yếu ra đời của “luân lý cộng sản” và “đạo đức cộng sản” [29, tr.366]. Trong đó, V.I. Lênin đã chỉ ra thực chất cách mạng của nội dung đạo đức mới đó là: “Những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” [29, tr.369]. Những luận điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã đặt cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu quản lý quá trình giáo dục phẩm chất nhân cách nhằm đảm bảo cho con nguời phát triển một cách toàn diện, là cơ sở khoa học để xây dựng, phát triển và quản lý nền giáo dục mới – nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, nước Nga xã hội chủ nghĩa ra đời, giáo dục bị phân chia thành hai dòng phát triển là giáo dục tư bản chủ nghĩa và giáo dục xã hội chủ nghĩa cùng song song tồn tại. Mỗi dòng giáo dục dựa trên những cơ sở phương pháp luận khác nhau và có những quan niệm khác nhau về GDĐĐ cho học sinh. Dòng giáo dục xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện nhiều nhà khoa học chuyên nghiên cứu về GDĐĐ cho học sinh. Nhiều tác phẩm về GDĐĐ cho học sinh ra đời vào thời kỳ này, tiêu biểu là M.I. Calinin. Những bài nói, bài viết của M.I.Calinin về GDĐĐ đã được dịch 6
9. ra tiếng Việt. Đặc biệt, tác phẩm“Giáo dục cộng sản”, do Nhà xuất bản Thanh niên phát hành năm 1973, đã được sử dụng làm tài liệu giáo dục khá phổ biên trong các nhà trường lúc bấy giờ. Ở Việt Nam, với triết lý giáo dục “Tiên học lễ, hậu học văn”, ngay trong nền giáo dục Nho học, việc GDĐĐ cho học sinh luôn được coi trọng. Chu Văn An (1292 – 1370), là ông tổ của nền giáo dục Việt Nam đã đề cao tinh thần quản lý xã hội, đấu tranh chống các tệ nạn xã hội (thất trảm sớ); lịch sử giáo dục Việt Nam đã ghi nhận ông là nhà sư phạm lỗi lạc, đã từng là nhà quản lý đứng đầu Quốc Tử Giám dưới triều Trần, trong quá trình giáo dục ông không chỉ nêu gương sáng cho kẻ sĩ học tập mà còn kêu gọi, động viên và khuyên bảo học trò về ý thức và sự trau dồi đạo đức với tự quản lý mình trong quá trình giáo dục nhân cách, tư tưởng quản lý quá trình giáo dục nói chung, quản lý quá trình giáo dục phẩm chất, nhân cách nói riêng, đã được ông đề cập khá toàn diện và sâu sắc, ngày nay vẫn còn giá trị về lý luận và thực tiễn to lớn đối với công tác quản lý giáo dục. Lê Quý Đôn (1726 – 1784), đã nêu ý kiến tiến bộ về quản lý quá trình giáo dục nhân cách và quản lý xã hội được thể hiện ở các mệnh đề: “Tứ tôn” và “Ngũ quy”; trong đó, ông hướng học trò với cách quản lý của riêng mình thông qua đọc sách, nghị luận, trước tác để học tập trở thành người hiền tài, ông đề cao hiền tài, đề cao giáo dục và quản lý giáo dục trong xã hội. Đây là những kiến giải quan trọng cho quản lý xã hội nói chung, quản lý giáo dục và quản lý quá trình giáo dục nói riêng. Tuy nhiên, do hạn chế về lịch sử và giai cấp, cho nên những quan điểm, tư tưởng quản lý và giáo dục của các ông có mặt còn mang nặng tính đẳng cấp, thiếu tính chất dân chủ, thiếu cơ sở khoa học trong cách thức tác động giáo dục con người và quản lý quá trình giáo dục. 7
10. Sang thời kỳ hiện đại, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của Việt Nam được xây dựng dựa trên triết lý giáo dục Hồ Chí Minh. Đó là nền giáo dục lấy việc GDĐĐ làm gốc, làm trung tâm cho sự phát triển hoàn toàn con người. Dựa trên triết lý Thiên – Địa – Nhân ở phương Đông và những luận điểm triết học hiện đại của học thuyết Mác – Lênin, cùng với những giá trị văn hoá của dân tộc và thế giới, Hồ Chí Minh đã khái quát bản chất con người với bốn đức tính “cần, kiêm, liêm, chính”. Bốn đức tính đó được đặt trong mối quan hệ với quy luật của trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Trong giáo dục học sinh, Hồ Chí Minh coi trọng giáo dục cả đức và tài, nhưng trong đó đức phải là gốc, đức là cơ sở cho sự phát triển của tài. Người nói: “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đức, không có đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. 8
11. Ngày nay, trong xu thế hội nhập, hợp tác quốc tế, GDĐĐ cho học sinh đang là một chủ đề trung tâm thu hút sự chú ý của dư luận xã hội và cũng là chủ đề được các nhà sư phạm, các nhà khoa học, các nhà quản lý xã hội quan tâm nhiều nhất. Nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ cho học sinh được xuất hiện. Có thể kể đến những công trình tiêu biểu như sau: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Phạm Minh Hạc, do Nxb Chính trị quốc gia phát hành năm 2001. Toàn bộ nội dung cuốn sách này đều liên quan đến vấn đề GDĐĐ cho học sinh. Trong đó có một chương viết về “Định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Trong cuốn sách chuyên khảo “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục” của tác giả Trần Đình Tuấn, do Nxb. QĐND phát hành năm 2012, có nhiều nội dung bàn về cơ sở phương pháp luận của GDĐĐ cho học sinh. Năm 2001, tác giả Trần Kiều đã công bố kết quả nghiên cứu chuyên đề KHXH 07-07-CĐ, với tiêu đề: Thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên học sinh, sinh viên trong chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Báo cáo Hội thảo khoa học toàn quốc của Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam, tổ chức từ ngày 17 đến 19 tháng 7 năm 2008, tại Biên Hoà, Đồng Nai, đã cho ra mắt kỷ yếu “Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở nước ta: Thực trạng và giải pháp”. Nội dung bao gồm nhiều bài viết của các nhà khoa học, các nhà sư phạm về QLGDĐĐ cho học sinh, sinh viên nói chung và cho học sinh THCS nói riêng. Về đạo đức, văn hoá đạo đức có các công trình:“Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Chí Mỳ (1999)

 

MÃ TÀI LIỆU: 0474

  • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
  • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
  • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
  • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
  • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

  • Đăng nhập MOMO
  • Quét mã QR
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email 
  • Check mail (1-15p)

  • Mua thẻ cào chỉ Viettel,  Vinaphone
  • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%) 
  • Add Zalo 0932091562
  • Nhận file qua zalo, email

  • Đăng nhập Internet Mobile
  • Chuyển tiền
  • Nhập số tiền
  • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
  • Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

 

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY


Notice: Undefined index: hide_title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 26

Notice: Undefined index: title in /home/cdmhewql/tailieumau.vn/wp-content/plugins/wp-google-search/wgs-widget.php on line 28

 

 

About hien

Check Also

Đề tài: Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Shinhan chi nhánh Trần Thái Tông

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đềtài Nếu như trước năm 2000, hoạt …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *